Điều kiện hưởng mức thu tiền sử dụng đất ưu đãi
Ông Vũ Trọng Tuệ (Quảng Ninh) đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 23/9/2026, diện tích 183,3 m² (hình thức sử dụng riêng), trong đó có 120 m² đất ở đô thị (sử dụng lâu dài) và 63,3 m² đất trồng cây lâu năm (thời hạn sử dụng đến ngày 31/12/2069).
Nguồn gốc thửa đất là được nhận thừa kế ngày 26/5/2026 từ Giấy chứng nhận gốc đứng tên hộ bà V.T.Đ. Gia đình đã xây dựng nhà ở và sử dụng ổn định từ năm 1994, không có tranh chấp và đã được cơ quan thuế xác định hình thức sử dụng đất công nhận cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở từ ngày 15/10/2003 đến ngày 1/7/2004 theo thông báo tháng 3/2024.
Nay, ông Tuệ có nhu cầu xin chuyển mục đích sử dụng đối với phần diện tích 63,3 m² đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất sang đất ở. Đây là thửa đất duy nhất của ông xin chuyển mục đích theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ; đồng thời diện tích 63,3 m² xin chuyển mục đích nằm trong hạn mức giao đất ở theo quy định.
Ông Tuệ hỏi, với các điều kiện thực tế của thửa đất nêu trên, khi ông thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng 63,3 m² đất trồng cây lâu năm sang đất ở thì có đủ điều kiện được hưởng chính sách tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP hay không?
Về vấn đề này, Thuế cơ sở 4 thành phố Quảng Ninh có ý kiến như sau:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội:
"Điều 10. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
… c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tỉnh theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương: 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cả nhân (tính trên 01 thửa đất)".
Căn cứ điểm a và điểm b khoản 21 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ:
"Điều 13. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP) của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 44 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:
"a) Xác định địa điểm, vị trí, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng đất, thời điểm tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (bao gồm thời điểm bàn giao đất thực tế đối với trường hợp tính tiền nộp bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 50, khoản 9 Điều 51 Nghị định này), thời hạn thuê đất, đơn giá thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định này, giá đất cụ thể, giá đất tại bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất trong các trường hợp phát sinh nghĩa vụ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền nộp bổ sung theo quy định tại Nghị định này (bao gồm cả trường hợp xác định khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của loại đất trước khi chuyển mục đích, trước khi điều chỉnh quy hoạch chi tiết, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất); Phiếu chuyển thông tin (thông tin về người sử dụng đất, diện tích đất, vị trí đất, mục đích sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và giá đất; đối tượng, diện tích miễn tiền thuê đất một số năm, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thời gian miễn một số năm, thời gian giảm, mức giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chi phí xây dựng hạ tầng (nếu có) do cơ quan có chức năng quản lý về xây dựng xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng).
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 như sau:
"a) Căn cứ quy định tại Nghị định này và Phiếu chuyển thông tin do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển đến, cơ quan thuế thực hiện tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (bao gồm cả tiền thuê đất có mặt nước, tiền thuê đất để xây dựng công trình ngầm, công trình ngầm nằm ngoài phần không gian sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Nghị định này); tiền đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 34; khoản tiền bổ sung theo quy định tại Điều 15, khoản 4 Điều 30, khoản 2 Điều 50, khoản 9 Điều 51; số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được miễn, giảm phải thu hồi theo quy định tại Điều 17, Điều 38 Nghị định này, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được giảm và thông báo cho người sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này"".
Căn cứ các quy định nêu trên, việc xác định thửa đất của ông Vũ Trọng Tuệ có thuộc các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không khi thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng 63,3 m² từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở thuộc chức năng của cơ quan có chức năng quản lý đất đai trên địa bàn.
Do đó, Thuế cơ sở 4 thành phố Quảng Ninh đề nghị ông Vũ Trọng Tuệ liên hệ với Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị thuộc UBND phường để được hướng dẫn thực hiện theo quy định.

