Định hình tư duy mới về khí hậu: Phòng ngừa từ sớm, kiến tạo tăng trưởng xanh
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về chuyển tư duy 'ứng phó' sang 'chủ động kiến tạo phát triển' là bước ngoặt chiến lược, định hình lại vai trò ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh.

Chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang chủ động kiến tạo phát triển. (Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: TTXVN)
Tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, ngày 10/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đầu tư cho môi trường là đầu tư cho tương lai; chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang chủ động kiến tạo phát triển.
Để làm rõ hơn về tư duy chiến lược trên, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam) đã có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, khí tượng học và quản lý tài nguyên môi trường).
Đổi tư duy quản trị: Từ "ranh giới hành chính" sang "liên kết vùng sinh thái"
- Thưa Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà, tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó với biến đổi khí hậu” sang “chủ động kiến tạo phát triển.” Bà đánh giá thế nào về chỉ đạo này và đâu là những thay đổi căn bản nhất về tư duy và cách tiếp cận mà ngành khí tượng và các địa phương cần thực hiện để biến biến đổi khí hậu từ một thách thức thành động lực cho phát triển xanh và bền vững?
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà: Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc chuyển từ tư duy “ứng phó” sang “chủ động kiến tạo phát triển” là một bước ngoặt chiến lược, định vị lại vai trò của công tác ứng phó với biến đổi khí hậu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây không chỉ là sự thay đổi về thuật ngữ mà còn là thay đổi về nhận thức: Coi biến đổi khí hậu không còn là một “gánh nặng” hay “chi phí” phát sinh, mà là động lực tăng trưởng xanh, bền vững và là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các mô hình du lịch cộng đồng gắn với trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa được tỉnh Cà Mau khuyến khích phát triển. (Ảnh: Huỳnh Anh/TTXVN)
Do vậy, ngành và các địa phương cần thay đổi cách tiếp cận từ “ranh giới hành chính” sang “liên kết vùng;” phát triển theo không gian sinh thái đa chiều, các hiện tượng khí hậu cực đoan vận hành theo quy luật tự nhiên, không theo ranh giới hành chính. Thay vì mỗi địa phương “tự làm, tự ứng phó,” cần chuyển sang mô hình liên vùng, liên lưu vực.
Tiếp theo là đột phá khoa học công nghệ để quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu. Chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ số và AI là công cụ đột phá.
Việc xây dựng hệ thống dữ liệu số quốc gia về tài nguyên, môi trường và khí hậu là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và quản trị rủi ro.
Cùng với đó, cần thay đổi về nguồn lực. Trong đó, tài chính khí hậu là nguồn vốn và là đòn bẩy để xây dựng các dự án thích ứng, giảm phát thải và cải thiện sinh kế, nên cần phát triển các công cụ kinh tế như thị trường carbon, tín dụng xanh, trái phiếu xanh để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân thay vì chỉ dựa vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, ngành cần dịch chuyển từ “dự báo thông số” sang “dự báo tác động.” Nghĩa là cần chuyển mình để cung cấp thông tin thời tiết, khí hậu, dịch vụ khí hậu và dự báo dựa trên tác động. Trong đó thông tin dự báo phải “đi đúng và đi trúng” nhu cầu của xã hội, để mang lại lợi ích kinh tế thiết thực, bảo đảm an toàn.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)
Dữ liệu khí hậu phải trở thành “hạ tầng chiến lược” của quốc gia
- Một trong những định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt nhấn mạnh là xây dựng hệ thống dữ liệu số quốc gia về tài nguyên, môi trường và khí hậu. Theo bà, chúng ta cần làm gì để hình thành “hạ tầng dữ liệu khí hậu” đồng bộ, liên thông và đủ mạnh, phục vụ hiệu quả?
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà: Xây dựng hạ tầng dữ liệu khí hậu không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật, mà là một cấu phần nền tảng của năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nhanh, mạnh, khó lường. Do vậy, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu số quốc gia về tài nguyên, môi trường và khí hậu, đó là một định hướng rất đúng và rất cấp bách. Bởi hiện nay, dữ liệu không chỉ để lưu trữ, mà phải trở thành “tài nguyên chiến lược,” phục vụ dự báo, cảnh báo sớm, quy hoạch phát triển, chuyển đổi xanh, xây dựng các hệ thống chống chịu khí hậu thông minh và bảo vệ an toàn cho người dân.
Do đó, cần xác định rõ dữ liệu khí hậu, biến đổi khí hậu và thiên tai là một trong những nhóm dữ liệu cơ bản, quan trọng; đồng thời cần được tích hợp trong khung số liệu quốc gia. Khi có được một nền tảng dữ liệu khí hậu đủ mạnh, tích hợp với các dữ liệu hạ tầng, kinh tế - xã hội, Việt Nam sẽ có điều kiện chuyển từ cách tiếp cận “ứng phó” sang “chủ động kiến tạo phát triển.”

Đô thị sinh thái ven biển. (Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: TTXVN)
Để hình thành một hạ tầng dữ liệu khí hậu đồng bộ, liên thông và đủ mạnh, cần coi dữ liệu khí hậu là một hạ tầng thiết yếu, tương tự như hạ tầng giao thông, năng lượng hay viễn thông. Hạ tầng đó phải bao gồm dữ liệu đa nền tảng, đa chiều.
Nếu chỉ có dữ liệu khí hậu thuần túy mà thiếu dữ liệu về dân cư, hạ tầng, sinh kế, y tế, nông nghiệp, năng lượng, giao thông thì rất khó chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “dự báo tác động.”
Điểm quan trọng thứ hai là chuẩn hóa, liên thông và thời gian thực. Hiện nhiều cơ quan, địa phương, ngành, lĩnh vực đều có dữ liệu, nhưng còn phân tán, khác chuẩn, khó chia sẻ và chưa cập nhật theo thời gian thực. Vì vậy cần xây dựng một kiến trúc dữ liệu khí hậu quốc gia thống nhất, quy định rõ chuẩn dữ liệu, siêu dữ liệu, quy trình kiểm soát chất lượng, cơ chế cập nhật, chia sẻ, phân quyền truy cập và bảo đảm an toàn thông tin.
Thứ ba, Việt Nam cần có các trung tâm dữ liệu và tính toán khí hậu đủ mạnh, có khả năng xử lý dữ liệu đa nguồn, vận hành mô hình độ phân giải cao, đồng hóa dữ liệu, đánh giá bất định và cung cấp dịch vụ khí hậu theo nhu cầu từng ngành.
Hơn thế, hạ tầng dữ liệu khí hậu phải hướng tới xây dựng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định thông minh. Đó là các hệ thống có khả năng tự động tích hợp dữ liệu quan trắc, mô hình, vệ tinh, radar, dữ liệu thực địa và dữ liệu kinh tế - xã hội; sử dụng AI để phân tích, nhận diện rủi ro, dự báo tác động, hỗ trợ ra quyết định và cung cấp thông tin phù hợp cho từng nhóm người dùng.
Cuối cùng, cần có cơ chế phối hợp quốc gia. Một hạ tầng dữ liệu khí hậu chỉ có thể thành công và hiệu quả nếu có sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, ban hành chuẩn, đầu tư dữ liệu nền, hạ tầng và bảo đảm chia sẻ; các cơ quan khoa học phát triển mô hình, sản phẩm; doanh nghiệp tham gia đổi mới sáng tạo và ứng dụng; người dân cung cấp phản hồi thực tế.
Khi đó, dữ liệu khí hậu, tài nguyên và môi trường sẽ thực sự trở thành nền tảng cho phát triển bền vững, thích ứng chủ động và xây dựng một Việt Nam an toàn hơn, thông minh hơn trước biến đổi khí hậu.

Cần Giờ chuyển mình thành mô hình năng lượng tái tạo hướng tới Net Zero. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
AI, Big Data và viễn thám mở ra mô hình quản trị rủi ro hiện đại
- Cũng tại buổi làm việc trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ. Dưới góc độ chuyên gia khí hậu, bà đánh giá như thế nào về vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), mô hình số và công nghệ viễn thám trong việc nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai?
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà: Tôi cho rằng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, tài nguyên và môi trường.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất, cường độ và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm, không thể tiếp tục quản lý theo cách thức truyền thống là theo dõi diễn biến rồi mới ứng phó. Thay vào đó, cần chuyển sang mô hình quản trị rủi ro hiện đại dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ và năng lực dự báo, cảnh báo sớm. Đây cũng chính là tinh thần chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa; là đòn bẩy để chuyển đổi năng lượng, tăng trưởng xanh và bền vững.
Đối với công nghệ viễn thám, đây là công cụ đặc biệt hiệu quả trong giám sát trên diện rộng, nhất là tại các khu vực miền núi, ven biển, hải đảo hoặc những nơi còn thiếu dữ liệu quan trắc mặt đất. Khi kết hợp viễn thám, AI và mô hình số, có thể xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm thông minh, liên tục cập nhật theo thời gian thực, phục vụ hiệu quả hơn cho công tác phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thúc đẩy động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Thực tế, các nghiên cứu về dự báo và cảnh báo sớm ô nhiễm không khí, ngập lụt đô thị, lũ quét, sạt lở đất, giám sát tài nguyên môi trường biển và ven biển đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất không phải là từng công nghệ riêng lẻ mà là khả năng tích hợp dữ liệu, mô hình và công nghệ thành một hệ thống thống nhất phục vụ quản trị quốc gia. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp chính quyền ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và quan trọng nhất là giúp người dân tiếp cận được thông tin cảnh báo kịp thời để chủ động bảo vệ tính mạng, tài sản và sinh kế.
Vì vậy, AI, Big Data, mô hình số và viễn thám không chỉ góp phần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai mà còn là nền tảng để xây dựng hệ thống quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đây cũng là giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, bền vững, nâng cao năng lực chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Đặt người dân ở trung tâm: Từ bản tin dự báo đến hành động sớm
- Thông điệp xuyên suốt trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là đặt người dân ở vị trí trung tâm của mọi giải pháp. Theo bà, làm thế nào để các kết quả nghiên cứu khí hậu, bản tin dự báo và cảnh báo rủi ro không chỉ dừng lại ở các cơ quan quản lý mà thực sự trở thành công cụ hữu ích giúp người dân chủ động bảo vệ sinh kế, tài sản trước thiên tai?
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà: Phải khẳng định rằng thông điệp xuyên suốt trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khi đặt người dân ở vị trí trung tâm của mọi giải pháp là rất quan trọng. Đó không chỉ là một định hướng chính sách, mà còn là sứ mệnh của quốc gia: Mọi thành quả phát triển đều phải hướng tới nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong quản trị tài nguyên, môi trường, khí hậu và phòng chống thiên tai, tinh thần ấy càng có ý nghĩa sâu sắc, bởi mục tiêu cuối cùng của khoa học, công nghệ, dự báo và cảnh báo không phải là các con số hay mô hình, mà là bảo vệ tính mạng, sinh kế, tài sản và môi trường sống an toàn cho người dân hiện tại và trong tương lai. Nói cách khác, người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu.
Các kết quả nghiên cứu khí hậu, các bản tin dự báo, cảnh báo rủi ro chỉ thực sự có giá trị khi giúp người dân hiểu được nguy cơ, biết cần làm gì và có đủ thời gian để hành động. Đây chính là thước đo quan trọng nhất của một hệ thống cảnh báo sớm.

Phát triển kinh tế hài hòa với môi trường. (Ảnh minh họa: Nguồn ảnh: TTXVN)
Trong nhiều năm qua, năng lực nghiên cứu, dự báo và cảnh báo thiên tai của Việt Nam đã có bước tiến quan trọng. Chúng ta đã xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu, hệ thống dự báo thời tiết, bão, mưa lớn, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, nắng nóng, nước biển dâng và nhiều sản phẩm chuyên ngành.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa thông tin khoa học và hành động thực tế của cộng đồng vẫn còn là thách thức. Không ít trường hợp bản tin đã được ban hành, nhưng người dân chưa hiểu hết mức độ nguy hiểm; hoặc thông tin còn chung cho một vùng rộng, chưa đủ cụ thể cho từng nhóm đối tượng, từng sinh kế.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải chuyển mạnh từ “cung cấp thông tin dự báo” sang “cung cấp dịch vụ cảnh báo rủi ro và hành động sớm.” Bản tin không chỉ nói mưa bao nhiêu milimét, gió cấp mấy, nhiệt độ bao nhiêu độ, mà cần diễn giải rõ tác động có thể xảy ra. Cảnh báo phải gắn với tác động, với hành động và với trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cộng đồng.
Để làm được điều đó, cần tăng cường dự báo dựa trên tác động. Do vậy, các cơ quan khoa học và dự báo cần phải kết hợp dữ liệu khí tượng thủy văn với dữ liệu dân cư, hạ tầng, sinh kế, y tế, nông nghiệp, giao thông, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp và các nhóm dễ bị tổn thương.
Cùng với đó, cần đa dạng hóa kênh truyền tải thông tin. Cảnh báo phải đến được người dân qua nhiều kênh. Ngôn ngữ cảnh báo cần ngắn gọn, dễ hiểu, có hướng dẫn hành động, tránh thuật ngữ kỹ thuật phức tạp. Các kết quả nghiên cứu khí hậu phải được chuyển hóa thành kế hoạch thích ứng cụ thể ở địa phương.
Khoa học khí hậu chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi góp phần bảo vệ nhân dân, phục vụ nhân dân, giúp mỗi người dân có thêm năng lực để sống an toàn, chủ động, bền vững trước thiên tai, biến đổi khí hậu.

Chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải, phát triển kinh tế xanh. (Nguồn: TTXVN)
Chuyển từ thế “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp và dẫn dắt”
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đặc biệt lưu ý Việt Nam không chỉ tranh thủ nguồn lực quốc tế mà còn cần chủ động tham gia xây dựng các sáng kiến, chuẩn mực và cơ chế hợp tác toàn cầu về môi trường, khí hậu. Theo bà, với kinh nghiệm và thành tựu hiện có, Việt Nam có thể đóng góp những giá trị gì cho cộng đồng quốc tế?
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà: Lưu ý của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là định hướng quan trọng để Việt Nam không chỉ tham gia dựa trên những khuôn khổ sẵn có, mà dần khẳng định vị thế, vai trò chủ động của Việt Nam với những tiếng nói quan trọng trong các sáng kiến, chuẩn mực và cơ chế hợp tác toàn cầu về môi trường và khí hậu.
Với những kinh nghiệm và thành tựu hiện có, để tiếp tục nâng cao vai trò và tiếng nói trong những diễn đàn khí hậu toàn cầu, Việt Nam cần có những bước chuẩn bị mang tính chiến lược, đồng bộ từ thể chế, công nghệ đến nguồn lực con người. Cụ thể, chúng ta cần hoàn thiện và thực thi nghiêm túc thể chế, pháp luật trong nước. Trong đó đẩy nhanh lộ trình vận hành thị trường carbon. Đây là “chìa khóa” để thu hút dòng vốn tư nhân vào các dự án xanh.
Tiếp theo là đầu tư nền tảng công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế xanh. Sự chuyển dịch sang mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh đòi hỏi một nền tảng công nghệ với các công nghệ chiến lược và một lực lượng lao động có tư duy sáng tạo, làm chủ được công nghệ, tập trung đào tạo nhân lực trong các ngành năng lượng tái tạo, công nghệ AI, chip, dữ liệu lớn và vận hành thị trường carbon, kiểm toán phát thải nhà kính; đổi mới tư duy của cộng đồng doanh nghiệp, người dân từ “bảo vệ môi trường là nghĩa vụ” sang “kinh tế xanh là cơ hội phát triển bền vững.”
Bên cạnh đó, chúng ta cần nâng cao năng lực tài chính và huy động nguồn lực quốc tế; chủ động chuẩn bị các phương án tài chính thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ không hoàn lại; xây dựng danh mục dự án xanh chuẩn quốc tế.
Ngoài ra, Việt Nam cần chuyển từ thế “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp và dẫn dắt” ở những lĩnh vực có lợi thế. Phát huy vai trò trong tiểu vùng Mekong và ASEAN như chủ động khởi xướng các sáng kiến chung về an ninh nguồn nước xuyên biên giới, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào tự nhiên.
- Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Ngà./.

Mô hình trồng rừng keo tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giúp hấp thụ lượng lớn CO₂, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. (Ảnh: Lê Đông/TTXVN)











