'Dò sóng' dòng kinh tế năng lượng từ ASEAN về Việt Nam

Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đang chuyển dịch từ những bản ghi nhớ mang tính ngoại giao sang các dự án hạ tầng tỉ đô thực thụ. Trong đó, dự án năng lượng liên kết Việt Nam – Malaysia – Singapore (VMS) không chỉ là một liên kết kỹ thuật, mà còn là phép thử cho chiến lược biến Việt Nam thành một trong những trung tâm năng lượng mới của khu vực, dựa trên hiệu quả kinh tế và khả năng hấp thụ vốn xanh quốc tế.

Theo báo cáo chiến lược “Năng lượng ASEAN năm 2026: Những thông tin chính và góc nhìn triển vọng” của Trung tâm Năng lượng ASEAN (ACE), năm 2026 được xem là bản lề của khu vực trong phát triển năng lượng. Và tại diễn đàn về lộ trình bền vững và chuyển dịch năng lượng của Malaysia diễn ra đầu tháng 2 năm nay, các bên cũng bàn thảo chi tiết hơn về những phương án thực hiện hóa kế hoạch phát triển lưới điện trong khu vực theo các mục tiêu của Kế hoạch Hành động Hợp tác Năng lượng ASEAN (APAEC).

Những dòng điện nối liền khu vực

ASEAN đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 45% công suất lắp đặt toàn khu vực vào năm 2030. Ảnh: Nhân Tâm

ASEAN đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 45% công suất lắp đặt toàn khu vực vào năm 2030. Ảnh: Nhân Tâm

Cụ thể, nếu giai đoạn 2 (2021-2025) của APAEC là bước tạo đà để chạm ngưỡng 35% công suất năng lượng tái tạo (RE), thì tại diễn đàn tại Kuala Lumpur, ASEAN đặt mục tiêu nâng tỷ trọng RE lên 45% công suất lắp đặt toàn khu vực vào năm 2030. Đây không còn là những con số mang tính kỳ vọng, mà là nền tảng để triển khai cơ chế thương mại điện đa phương (Multilateral Power Trade - MPT). Trong hệ sinh thái này, Việt Nam được định vị là “mắt xích đối tác trọng yếu” nhờ khả năng cung ứng vRE (năng lượng tái tạo biến đổi) từ gió ngoài khơi.

Trong bức tranh đó, dự án kết nối lưới điện Việt Nam – Malaysia – Singapore (VMS) là một điểm sáng. Sáng kiến VMS tập trung vào phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam với công suất dự kiến ban đầu là 2.000 MW, định hướng đưa dòng điện sạch này vượt biển sang bán đảo Malaysia và Singapore qua hệ thống cáp ngầm xuyên biển cao áp.

Nhìn từ góc độ kinh tế học hạ tầng, hợp tác lưới điện thông qua năng lượng tái tạo chính là lời giải cho bài toán tối ưu hóa nguồn lực khu vực. Khi mỗi quốc gia đều có sự lệch pha về đỉnh phụ tải (giờ cao điểm dùng điện) và tiềm năng thiên nhiên khác nhau (Lào mạnh về thủy điện, Việt Nam mạnh về gió và mặt trời), việc kết nối lưới điện cho phép các nước chia sẻ công suất dự phòng. Điều này giúp giảm bớt áp lực đầu tư vốn cực lớn vào các nhà máy điện chạy nền đắt đỏ và giảm thiểu lãng phí khi thừa công suất cục bộ.

Việt Nam hòa vào điện lưới ASEAN như thế nào?

Báo cáo năng lượng 2026 của ACE ghi nhận Việt Nam hiện dẫn đầu ASEAN về công suất lắp đặt điện mặt trời và điện gió, chiếm khoảng 45% tổng công suất năng lượng tái tạo toàn khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chỉ thực sự đạt tối ưu khi chúng ta giải quyết được bài toán truyền tải.

Một nhà máy điện mặt trời tại tỉnh Ninh Thuận. Năng lượng tái tạo bao gồm điện mặt trời và điện gió ngày càng được tích hợp nhiều hơn vào các lưới điện ở Đông Nam Á. Ảnh: Anh Đào

Một nhà máy điện mặt trời tại tỉnh Ninh Thuận. Năng lượng tái tạo bao gồm điện mặt trời và điện gió ngày càng được tích hợp nhiều hơn vào các lưới điện ở Đông Nam Á. Ảnh: Anh Đào

Việc xuất khẩu điện sang các thị trường có mức giá hấp dẫn như Singapore không chỉ mang lại nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp các dự án năng lượng tái tạo tại Việt Nam trở nên có khả năng vay vốn hơn trong mắt các định chế tài chính quốc tế.

Và để đạt được mục tiêu Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần thu hút khoảng 150 tỉ đô la cho hạ tầng điện lực đến năm 2030 và 700 tỉ đô la chuyển đổi năng lượng sách nói chung. Những con số này chỉ có thể được khơi thông khi chúng ta tham gia sâu vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực, nơi rủi rủi ro đầu tư được chia sẻ thông qua các cơ chế hợp tác đa phương như đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP).

Mới đây, Chính phủ đã có các công văn chỉ đạo, thúc đẩy nhanh việc thực hiện Quy hoạch điện VIII (Power Development Plan 8 - PDP8) như là một phần thực hiện hóa mục tiêu trên. Công văn yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương tháo gỡ rào cản pháp lý để triển khai các dự án thí điểm điện gió ngoài khơi, đặc biệt là các dự án có tính chất liên kết xuất khẩu tại các địa phương.

Một trong những địa phương đang theo đuổi các dự án điện gió chính là, với kỳ vọng đạt công suất 3.000 MW vào năm 2025 và hướng tới 10.000 MW vào năm 2030, theo TTXVN. Địa phương này không chỉ xây dựng các trụ gió đơn lẻ mà đang hình thành hệ sinh thái đồng bộ: năng lượng sạch gắn liền với hạ tầng logistics của Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC).

Tại phía Bắc, Hải Phòng cũng đang viết nên câu chuyện của mình. Theo TTXVN, thành phố này đang thúc đẩy các khu công nghiệp chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái. Tại đây, các doanh nghiệp đã ưu tiên sử dụng điện mặt trời áp mái và đèn LED để tối ưu hóa năng lượng. Chính quyền thành phố Hải Phòng thậm chí đã triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu và hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, tạo dựng nền tảng dữ liệu tập trung phục vụ kinh tế tuần hoàn.

Việc các địa phương như Quảng Trị hay Hải Phòng chủ động “xanh hóa” hạ tầng chính là sự chuẩn bị tốt nhất để đón đầu dòng vốn FDI chất lượng cao – những “đại bàng”, đặc biệt là tập đoàn công nghệ lớn vốn, luôn đặt yêu cầu về 100% năng lượng tái tạo lên hàng đầu khi chọn điểm đến.

Từ những phân tích trên cho thấy, câu chuyện năng lượng của năm 2026 không còn là việc mỗi quốc gia tự xây “ốc đảo” điện lực cho riêng mình. Những dự án cáp ngầm xuyên biển nối Việt Nam - Malaysia - Singapore hay những cánh đồng gió tại Quảng Trị là minh chứng cho một tư duy mới: an ninh năng lượng là sự chia sẻ và liên kết.

Nhân Tâm

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/do-song-dong-kinh-te-nang-luong-tu-asean-ve-viet-nam/