Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh góp ý tiêu chuẩn, trách nhiệm của Điều tra viên

Chiều 20/8, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận tại tổ về dự án Bộ luật Hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi).

Tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi), đồng chí Trần Thị Vân, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh bày tỏ sự đồng tình cao với các nội dung sửa đổi, bổ sung, nhất là việc đã quy định rõ mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cơ quan điều tra; phân định cụ thể thẩm quyền giữa các cấp, các cơ quan, phù hợp với yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và thực tiễn công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

 Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tổ chiều 20/8.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tổ chiều 20/8.

Từ thực tiễn nghiên cứu, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Trần Thị Vân đóng góp một số ý kiến vào các điều khoản cụ thể:

Về tiêu chuẩn của điều tra viên (Điều 35), tại điểm c khoản 1 Điều 35 quy định: “Có thời gian làm công tác pháp luật” nhưng chưa xác định thời gian bao lâu. Quy định này còn chung chung, chưa phản ánh yêu cầu về kinh nghiệm thực tiễn của người được bổ nhiệm Điều tra viên. Do vậy, đồng chí đề nghị quy định trong Luật về thời gian tối thiểu làm công tác pháp luật hoặc công tác nghiệp vụ có liên quan trực tiếp đến hoạt động điều tra, tố tụng hình sự, đồng thời phân định rõ tiêu chuẩn về thời gian, kinh nghiệm đối với từng ngạch Điều tra viên. Qua đó sẽ giúp tiêu chuẩn bổ nhiệm có căn cứ rõ ràng, hạn chế việc áp dụng không thống nhất và bảo đảm người được bổ nhiệm có đủ kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ.

Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên (Điều 38), khoản 4, Điều 38 quy định Điều tra viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình; trong khi khoản 1 và điểm b khoản 3, Điều 38 lại quy định Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, làm rõ cơ chế phân định trách nhiệm giữa Điều tra viên và người chỉ đạo, theo hướng mỗi chủ thể chịu trách nhiệm tương ứng với thẩm quyền, hành vi và quyết định của mình; đồng thời nghiên cứu quy định quyền báo cáo, bảo lưu ý kiến và từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật của Điều tra viên. Quy định rõ vấn đề này sẽ bảo đảm trách nhiệm gắn với thẩm quyền, tránh đùn đẩy hoặc chuyển trách nhiệm giữa các chủ thể, đồng thời nâng cao tính khách quan và hiệu quả trong hoạt động điều tra.

Đối với những việc Điều tra viên không được làm (Điều 40), khoản 6, Điều 40 quy định: Điều tra viên không được “tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định”. Đây là quy định cần thiết nhằm phòng ngừa việc Điều tra viên tiếp xúc riêng với người tham gia tố tụng, qua đó hạn chế nguy cơ tác động, can thiệp, nhận lợi ích hoặc làm ảnh hưởng đến tính khách quan của việc giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, điểm chưa rõ là cụm từ “ngoài nơi quy định” chưa xác định cụ thể nơi nào là nơi được phép tiếp, trường hợp nào được tiếp và trường hợp nào được coi là tiếp xúc phục vụ nhiệm vụ. Trên thực tế, hoạt động điều tra có tính đặc thù, Điều tra viên có thể phải gặp, làm việc với người tham gia tố tụng tại nhiều địa điểm khác nhau do yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu, kiểm tra hiện trường hoặc thực hiện các hoạt động điều tra khác. Nếu quy định cứng nhắc về địa điểm mà không có ngoại lệ phù hợp thì có thể gây khó khăn cho hoạt động nghiệp vụ; ngược lại, nếu không quy định rõ thì có thể tạo khoảng trống để lợi dụng việc “thực hiện nhiệm vụ” cho các cuộc tiếp xúc không chính thức.

Do vậy, đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ khái niệm “nơi quy định” và các trường hợp được tiếp xúc ngoài nơi đó do yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời quy định nguyên tắc mọi cuộc tiếp xúc ngoài địa điểm thông thường phải có căn cứ, được sự đồng ý hoặc phân công của người có thẩm quyền và được ghi nhận theo quy định. Đối với các cuộc tiếp xúc không nhằm thực hiện nhiệm vụ hoặc không có căn cứ chính đáng thì cần xác định rõ là hành vi bị nghiêm cấm.

Về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Điều tra viên (Điều 41), khoản 4 Điều 41 quy định Điều tra viên có thể bị cách chức tùy theo tính chất, mức độ vi phạm nếu khoản a: “vi phạm trong công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra vụ án hình sự” hoặc khoản d: “vi phạm về phẩm chất đạo đức”. Tuy nhiên, các quy định này còn mang tính khái quát, chưa xác định rõ mức độ, tính chất và hậu quả của hành vi vi phạm làm căn cứ cách chức, đồng thời chưa phân định rõ với các hình thức xử lý khác.

Do vậy, đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo quy định cụ thể hơn các trường hợp bị cách chức và chỉ áp dụng khi Điều tra viên có vi phạm nghiêm trọng trong thực hiện nhiệm vụ, vi phạm làm ảnh hưởng đến tính khách quan, đúng đắn của hoạt động điều tra hoặc không còn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện chức danh Điều tra viên; đồng thời làm rõ tiêu chí “vi phạm về phẩm chất đạo đức” và mối quan hệ giữa cách chức chức danh Điều tra viên với các hình thức kỷ luật theo pháp luật có liên quan. Việc quy định cụ thể sẽ bảo đảm việc xử lý cách chức có căn cứ, khách quan, tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm; vừa bảo đảm tính nghiêm minh trong quản lý đội ngũ Điều tra viên, vừa tránh áp dụng tùy nghi, không thống nhất và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xem xét xử lý.

Cũng tại phiên thảo luận tổ, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Trần Văn Tuấn phát biểu đóng góp ý kiến vào Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Đồng chí thống nhất cao về sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự lần này. Đồng chí nhấn mạnh, đây là yêu cầu cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự của Nhà nước, kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế qua thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành. Việc sửa đổi lần này cũng nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; phân định rõ hơn tính chất, mức độ nguy hiểm của từng hành vi vi phạm để có chính sách xử lý phù hợp, nghiêm minh đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng đồng thời bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Lưu Hằng

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/doan-dai-bieu-quoc-hoi-tinh-bac-ninh-gop-y-tieu-chuan-trach-nhiem-cua-dieu-tra-vien-postid452663.bbg