Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận tại hội trường về các dự án luật
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 9/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về các dự án luật. Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh do đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh dẫn đầu đã thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2012 và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tham dự phiên họp - Ảnh: N.M
Hoàn thiện chính sách xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số
Góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2012, đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh cho rằng, việc sửa đổi Luật là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng chí đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng rõ ràng, khả thi, thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan.
Về giải thích từ ngữ, đồng chí đề nghị bổ sung ngay trong Luật các tiêu chí xác định “hoạt động có tính chất xuất bản trên không gian mạng”, đồng thời làm rõ các trường hợp loại trừ, chủ thể chịu trách nhiệm và cơ chế xử lý. Theo đồng chí, khái niệm “nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng” trong dự thảo còn rộng, chưa xác định rõ các tiêu chí về quy mô phổ biến, tính thường xuyên, mục đích hoạt động. Điều này có thể gây khó khăn khi áp dụng, đồng thời phát sinh chồng chéo với pháp luật về báo chí, thông tin điện tử, mạng xã hội, an ninh mạng và sở hữu trí tuệ.
Đồng chí đề nghị xác định rõ tiêu chí nhận diện ngay trong Luật, giao Chính phủ quy định chi tiết, qua đó vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, vừa phù hợp thực tiễn phát triển của các nền tảng số, ngăn ngừa tình trạng “xuất bản trá hình” trên môi trường mạng.

Đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2012 - Ảnh: N.M
Về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản, đồng chí đề nghị bổ sung chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong xuất bản giáo dục; ưu tiên số hóa sách giáo khoa, giáo trình, phát triển học liệu số và xây dựng nền tảng học liệu số dùng chung. Bên cạnh đó, cần bổ sung đối tượng được ưu tiên tại điểm b khoản 1 Điều 7, gồm: Phụ nữ, trẻ em gái, gia đình và các nhóm yếu thế; hoặc ưu tiên đặt hàng, hỗ trợ xuất bản phẩm tuyên truyền về bình đẳng giới, xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ phụ nữ và trẻ em, bởi đây là những chủ thể quan trọng trong lan tỏa văn hóa đọc nhưng chưa được đề cập đầy đủ trong dự thảo.
Đồng thời bổ sung chính sách khuyến khích phát triển kho xuất bản phẩm điện tử phục vụ phụ nữ, trẻ em và gia đình, ưu tiên nội dung về kỹ năng sống, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận tri thức, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn.
Đồng chí cũng đề nghị bổ sung cơ chế tài chính ổn định cho hoạt động đặt hàng xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; nghiên cứu chính sách thuế giá trị gia tăng thống nhất đối với sách in, sách điện tử và sách nói, tạo động lực chuyển đổi số và bảo đảm bình đẳng giữa các loại hình xuất bản.
Về người đứng đầu nhà xuất bản, đồng chí đề nghị sửa quy định theo hướng thay cụm từ “đồng thời là” bằng “có thể đồng thời là”, giao cơ quan chủ quản quyết định việc kiêm nhiệm căn cứ mô hình tổ chức và yêu cầu quản trị của từng nhà xuất bản. Theo đồng chí, cách quy định này sẽ bảo đảm nguyên tắc phân định giữa chức năng quản trị và điều hành, đồng thời tăng tính chủ động trong tổ chức, quản lý nhà xuất bản.
Luật hóa tiêu chí sử dụng ngoại hối, bảo vệ tổ chức tín dụng khi báo cáo giao dịch đáng ngờ
Phát biểu tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, đồng chí Nguyễn Khánh Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Quảng Trị, cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung 3 luật; đồng thời đề nghị làm rõ 2 nhóm vấn đề.
Về nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, đồng chí cho rằng, Điều 31a dự thảo quy định các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng và các hình thức tương tự không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ trường hợp được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép.

Đồng chí Nguyễn Khánh Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Quảng Trị thảo luận tại phiên họp - Ảnh: N.M
Theo đồng chí, quy định này gần như giữ nguyên cách tiếp cận tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối hiện hành, trong khi tiêu chí xác định các trường hợp được phép sử dụng ngoại hối chưa được luật hóa. Vì vậy, đồng chí đề nghị quy định ngay trong luật các nguyên tắc, tiêu chí xác định trường hợp được phép sử dụng ngoại hối; chỉ giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chi tiết trong phạm vi luật định, bảo đảm tính minh bạch và phù hợp yêu cầu hạn chế quyền phải do luật định.
Đối với công tác nhận diện, báo cáo giao dịch đáng ngờ, nhất là trong lĩnh vực tài sản mã hóa, đồng chí Nguyễn Khánh Vũ nhấn mạnh đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật ngân hàng mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh tài chính quốc gia.
Đánh giá việc dự thảo bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ liên quan tài sản mã hóa là cần thiết, phù hợp với các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), tuy nhiên, ý kiến cũng chỉ ra những vướng mắc về năng lực và động lực thực thi cần được khắc phục.
Theo đó, đồng chí đề nghị Chính phủ ban hành tiêu chí kỹ thuật hướng dẫn cụ thể từng dấu hiệu đáng ngờ; quy định ngưỡng giao dịch cần xác minh danh tính theo thông lệ quốc tế, kèm lộ trình đầu tư hạ tầng và đào tạo cán bộ, có hiệu lực đồng thời với luật.
Bên cạnh đó, đồng chí kiến nghị quy định rõ trong luật cơ chế bảo vệ tại Điều 39, bao gồm miễn trừ trách nhiệm dân sự, hình sự đối với tổ chức tín dụng khi thực hiện báo cáo trung thực, có căn cứ hợp lý. Qua đó, tạo động lực để các tổ chức tín dụng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo, nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền, đồng thời hạn chế gây khó khăn cho khách hàng hợp pháp.












