Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản
Sáng 9/8, dưới sự điều hành phiên họp của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Một trong những vấn đề đại biểu Quốc hội nêu tại phiên họp cho rằng, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản.

Sáng 9/8/2026, Quốc hội đã thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.
Cần làm rõ nội hàm khái niệm “xuất bản”
“Cần xác định lại thật chính xác nội hàm khái niệm ‘xuất bản’, không nên coi nộp lưu chiểu là một bộ phận cấu thành của quá trình xuất bản”, đây là ý kiến phát biểu của đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn TP Hải Phòng).
Dẫn giải ý kiến này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho biết: Tại khoản 1 Điều 4 của dự thảo sau tiếp thu, “xuất bản” được xác định là quá trình tạo thành bản mẫu để in hoặc tạo lập xuất bản phẩm điện tử “và thực hiện nghĩa vụ nộp lưu chiểu”. Đại biểu Việt Nga cho rằng điểm này cần rà soát lại.
Về bản chất, khai thác bản thảo, biên tập, thiết kế, chế bản và quyết định xuất bản là những công đoạn tạo ra xuất bản phẩm. Còn lưu chiểu là nghĩa vụ quản lý phát sinh đối với xuất bản phẩm sau khi đã được hình thành, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước. Chính Điều 28 của dự thảo cũng đã thiết kế lưu chiểu thành một chế định độc lập và định nghĩa rất rõ việc nộp lưu chiểu là chuyển xuất bản phẩm hoặc tệp điện tử đến cơ quan quản lý nhà nước.

Các đại biểu Quốc hội đã thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.
Đáng lưu ý, trong Báo cáo tiếp thu, giải trình, cơ quan soạn thảo cũng đã xác định rằng khái niệm “xuất bản” nên chỉ thể hiện những dấu hiệu bản chất, còn lưu chiểu là quy trình phát sinh sau và cần quy định tại điều khoản riêng. Nhưng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản ngày 8/8 hiện vẫn giữ lưu chiểu trong định nghĩa “xuất bản”.
“Điều này không chỉ là vấn đề kỹ thuật câu chữ. Nếu coi lưu chiểu là một phần của chính quá trình xuất bản thì sẽ phát sinh câu hỏi: xuất bản phẩm đã được tạo thành và có quyết định xuất bản nhưng chưa nộp lưu chiểu thì về pháp lý đã được “xuất bản” hay chưa? Từ đó có thể ảnh hưởng đến việc xác định thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu ý kiến.
Do đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị bỏ cụm từ liên quan đến nộp lưu chiểu khỏi khái niệm “xuất bản” tại Điều 4 và để toàn bộ chế định lưu chiểu tại Điều 28, không nên nhập hai giai đoạn pháp lý khác nhau vào một khái niệm.
Tăng cường kiểm soát đối với hoạt động xuất bản
Thảo luận tại hội trường, các đại biểu Quốc hội cũng tán thành việc tăng cường kiểm soát đối với những hoạt động xuất bản phẩm có nội dung đặc thù, nhưng cơ chế kiểm soát ba lớp cần được luật hóa rõ hơn để vừa chặt chẽ, vừa tránh tạo ra một khoảng thời gian pháp lý không xác định (khoản 2 điều 22 dự thảo).
Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, Dự thảo mới quy định đối với tác phẩm, tài liệu thuộc danh mục do Chính phủ quy định, nhà xuất bản phải gửi đăng ký kế hoạch xuất bản kèm kết quả thẩm định bản thảo được cơ quan chủ quản phê duyệt. Sau khi nộp lưu chiểu, xuất bản phẩm thuộc nhóm này lại chỉ được phát hành sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (khoản 5 điều 28).
Đa số đại biểu đồng tình rằng với những nội dung liên quan đến chủ quyền quốc gia, lịch sử dân tộc, lãnh tụ và những vấn đề đặc biệt nhạy cảm thì cần có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Báo cáo tiếp thu cũng giải trình đây là cơ chế ba lớp nhằm bảo đảm an ninh văn hóa, tư tưởng.
Tuy nhiên, dự thảo hiện giao Chính phủ xác định danh mục và thời hạn cho ý kiến, trong khi Luật chưa xác định rõ những tiêu chí cơ bản để một đề tài bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, cũng chưa quy định hậu quả pháp lý nếu cơ quan có trách nhiệm không có ý kiến đúng thời hạn.
Đây là vấn đề cần cân nhắc vì một xuất bản phẩm đã hoàn thành đầy đủ quy trình nhưng không được phát hành nếu chưa có ý kiến của cơ quan nhà nước. Như vậy, thời hạn và trách nhiệm trả lời không phải đơn thuần là thủ tục hành chính mà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền chủ động của nhà xuất bản, quyền của tác giả và các quan hệ hợp đồng liên quan.

Đại biểu Nguyễn Thái Học (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phát biểu.
Đại biểu Nguyễn Thái Học (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) cho rằng, cần nêu cao tiêu chuẩn chức danh của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu nhà xuất bản. Tại khoản 1 Điều 17 có quy định về vấn đề này, nhưng lại lược bỏ quy định đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu có phẩm chất chính trị, đạo đức.
“Luật hiện hành thì có nhưng Luật sửa đổi, bổ sung lại lược bỏ nội dung này. Tôi cho rằng đối với những người lãnh đạo của nhà xuất bản, phẩm chất chính trị và đạo đức là rất quan trọng. Nó thể hiện tố chất, nhân cách, phẩm chất được trải nghiệm qua thực tiễn, bằng cấp cũng không thể hiện được. Trong điều kiện hiện nay và thực tiễn hiện nay, người đứng đầu của các nhà xuất bản càng phải có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt. Nhưng trong luật chúng ta lại lược bỏ nội dung này”, đại biểu Nguyễn Thái Học nếu ý kiến.
Một trong những nội dung liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, đại biểu Nguyễn Thái Học cho biết, ngày 17/5/2026, Ban Bí thư đã có Chỉ thị số 04-CT/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Một trong những nhiệm vụ Ban Bí thư nhấn mạnh là phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.
“Tôi đọc trong 54 Điều của Dự thảo Luật có đề cập đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thế nhưng chưa đủ mạnh, chưa đủ tính răn đe đối với những sai phạm. Do vậy, tôi đề nghị cần phải soát xét lại, cần thiết nên có một điều luật riêng nói về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Những vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản vừa qua bị xử lý về pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền đã kết luận nguyên nhân là do buông lỏng công tác thanh tra, kiểm tra. Do vậy, việc đặt ra vấn đề thanh tra, kiểm tra trong dự thảo luật này có một điều luật riêng là rất cần thiết”, đại biểu Nguyễn Thái Học nêu ý kiến.
Nhiều đại biểu Quốc hội cũng đề nghị, Luật nên quy định nguyên tắc và nhóm tiêu chí cơ bản để xác định xuất bản phẩm thuộc diện kiểm soát đặc biệt; đồng thời quy định thời hạn tối đa để cơ quan quản lý trả lời. Nếu cần kéo dài trong trường hợp đặc biệt thì phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và chỉ được gia hạn trong giới hạn nhất định. Có như vậy mới vừa bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nội dung nhạy cảm, vừa bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.
Nhiều đại biểu nhận định dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đã bổ sung nhiều quy định nhằm thúc đẩy xuất bản điện tử, ứng dụng công nghệ số trong quy trình biên tập, xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy các quy định hiện nay chủ yếu tập trung vào số hóa phương thức thực hiện hoạt động xuất bản, trong khi chưa hình thành tư duy quản trị dữ liệu xuất bản.

Quang cảnh phiên họp Quốc hội sáng 9/8/2026.
Trong bối cảnh Luật Dữ liệu, Luật Giao dịch điện tử, Luật Lưu trữ và Luật Công nghiệp công nghệ số đã được ban hành, dữ liệu cần được xác định là hạ tầng nền tảng của hoạt động xuất bản số. Nếu chỉ quy định về quy trình nghiệp vụ mà chưa quy định nguyên tắc xây dựng, quản lý, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu xuất bản thì chuyển đổi số sẽ mới dừng ở mức chuyển đổi phương thức, chưa tạo được nền tảng cho quản trị nhà nước, thống kê, phân tích, dự báo và phát triển thị trường xuất bản.
Từ thực tế này, các đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn ĐBQH TP Huế), đại biểu Bế Trung Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) đề nghị bổ sung nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành về hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật về dữ liệu.
Bên cạnh đó, cần quy định nguyên tắc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước với nhà xuất bản, cơ sở in, đơn vị phát hành và các nền tảng số; bổ sung quy định về lưu trữ, bảo quản và khai thác lâu dài đối với xuất bản phẩm điện tử theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Đồng thời, cần bổ sung yêu cầu bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ quyền tác giả trong quá trình chuyển đổi số.
Về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xuất bản, nhiều đại biểu Quốc hội nhận định, dự thảo đã tiếp cận xu hướng ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động xuất bản. Tuy nhiên, các quy định liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) hiện còn mang tính khái quát, chưa xác định rõ nguyên tắc sử dụng cũng như trách nhiệm pháp lý của các chủ thể khi ứng dụng AI.
Trong thực tiễn, AI có thể hỗ trợ biên tập, dịch thuật, hiệu đính, tổng hợp dữ liệu và đề xuất nội dung; tuy nhiên AI không có tư cách pháp lý và không thể thay thế trách nhiệm của cơ quan xuất bản, tổng biên tập, biên tập viên hoặc tác giả. Nếu Luật không xác định rõ nguyên tắc này thì có thể phát sinh khoảng trống pháp lý trong việc xác định trách nhiệm khi xuất bản phẩm có sai phạm.
Đóng góp ý kiến về những nội dung và hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản được quy định trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, một số đại biểu Quốc hội cho biết: Dự án luật đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 và giữ khoản 1 Điều 10 quy định nghiêm cấm việc xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm có các nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định; xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc; không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân.











