Doanh nghiệp cạnh tranh bằng định chuẩn quốc tế
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần thu hẹp, năng lực đáp ứng và định hình các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra với Việt Nam trong quá trình nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, được thảo luận tại Diễn đàn “Cạnh tranh bằng định chuẩn trong thời kỳ xoay trục kinh tế”, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 15/10.
Tiêu chuẩn trở thành điều kiện cạnh tranh

Quang cảnh Diễn đàn. Ảnh: Hứa Chung - TTXVN
Ông Michael Zinck Jensen, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Nhà máy Pandora Việt Nam cho biết, mạng lưới sản xuất tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Đây cũng là một trong những lý do Tập đoàn lựa chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất mới.
Theo ông Michael Zinck Jensen, Việt Nam hiện đã hình thành được nền tảng và đang từng bước tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này cũng thể hiện qua việc ngày càng có nhiều thương hiệu toàn cầu lựa chọn sản xuất tại Việt Nam. Với Pandora, tiêu chuẩn dành cho nhà cung cấp không chỉ bao gồm chất lượng và giá cả, mà còn liên quan đến tìm nguồn cung ứng có trách nhiệm, phát triển bền vững và tuân thủ quy định. Tập đoàn cũng sẵn sàng hợp tác với những nhà cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ban đầu để cùng nâng cao năng lực.
Thực tế này cho thấy tiêu chuẩn vừa tạo sức ép, vừa mở ra cơ hội để doanh nghiệp nội địa cải thiện năng lực quản trị và sản xuất. Tuy nhiên, việc thu hút thêm các tập đoàn quốc tế không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi tương xứng, nếu chưa đáp ứng được yêu cầu của mạng lưới cung ứng.
Trong lĩnh vực cảng biển và logistics, sức ép nâng chuẩn thể hiện qua các yêu cầu về an ninh, hiệu quả khai thác, số hóa và giảm phát thải. Ông Phạm Quốc Long, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Gemadept, cho biết hoạt động cảng biển phải tuân thủ nhiều quy định quốc tế, trong đó có Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS) của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), cùng các tiêu chuẩn trong nước về cảng xanh.

Ông Michael Zinck Jensen, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Nhà máy Pandora Việt Nam thuộc Tập đoàn Pandora, chia sẻ tại toạ đàm. Ảnh: Hứa Chung – TTXVN
Theo ông Phạm Quốc Long, tiêu chuẩn cảng xanh hiện chưa mang tính bắt buộc trong mọi trường hợp, nhưng có thể ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng khi các quốc gia thực hiện cam kết giảm phát thải và hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Tại Gemadept, 4/6 cảng đã được cấp chứng chỉ cảng xanh. Doanh nghiệp đồng thời ứng dụng nền tảng cảng thông minh SMP để cung cấp thông tin về lịch tàu, tình trạng hàng hóa, thời gian lưu cảng và chi phí dịch vụ. Công nghệ AI hỗ trợ kiểm tra tình trạng container, giúp rút ngắn thời gian xử lý từ 3–4 giờ hoặc lâu hơn xuống còn khoảng 3–5 phút. Gemadept cũng khuyến khích đối tác tăng cường vận tải thủy nội địa thông qua các cơ chế ưu đãi về giá và thời gian cung ứng dịch vụ, góp phần giảm áp lực giao thông đường bộ và chi phí logistics.
Những vấn đề trên cho thấy tiêu chuẩn có thể tạo lợi thế cạnh tranh khi được chuyển hóa thành hiệu quả vận hành cụ thể. Tuy nhiên, để tiến từ áp dụng sang tham gia xây dựng chuẩn mực mới, doanh nghiệp cần có năng lực công nghệ, dữ liệu và khả năng kiểm chứng giải pháp ở quy mô lớn.
Điểm nghẽn về dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa

Tọa đàm cấp cao với chủ đề “Đâu là những lĩnh vực Việt Nam có thể vươn lên định chuẩn?”. Ảnh: Hứa Chung – TTXVN
Theo các chuyên gia, một trong những thách thức của Việt Nam là xây dựng năng lực nghiên cứu, phát triển và đánh giá công nghệ theo đặc thù thị trường trong nước. Đây là điều kiện để doanh nghiệp không chỉ sử dụng giải pháp có sẵn, mà còn phát triển những công nghệ có khả năng được thị trường công nhận.
Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), ông Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công nghệ Khu vực miền Nam của Viettel AI cho rằng, không phải lúc nào cũng có một bộ tiêu chuẩn đánh giá toàn cầu phù hợp với mọi quốc gia. Các mô hình cần được kiểm chứng dựa trên dữ liệu, ngôn ngữ và bối cảnh sử dụng thực tế.
Theo ông Trần Tuấn Anh, Việt Nam chưa đầu tư đủ nguồn lực để xây dựng các bộ dữ liệu và tiêu chuẩn đánh giá chuyên biệt. Chẳng hạn, với mô hình ngôn ngữ lớn phục vụ lĩnh vực pháp lý, việc đánh giá cần có sự tham gia của luật sư và chuyên gia để bảo đảm mô hình diễn giải chính xác quy định, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam. Một mô hình đạt kết quả tốt trên dữ liệu quốc tế chưa chắc đáp ứng được yêu cầu trong nước. Vì vậy, bên cạnh phát triển công nghệ, Việt Nam cần đầu tư cho dữ liệu, phương pháp đánh giá và cơ chế kiểm chứng, với sự phối hợp giữa doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia từng lĩnh vực.
Ở góc độ chính sách, ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hạ tầng giao thông, cảng biển và logistics là những lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng tham gia định hình tiêu chuẩn mới, nhất là trong chuyển đổi xanh và nâng cao hiệu quả vận hành. TP. Hồ Chí Minh hiện đang triển khai các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo theo từng giai đoạn, từ hình thành ý tưởng, kiểm chứng giải pháp đến tăng tốc phát triển.

Ông Richard D. McClellan, Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính quốc Tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ tại phiên toạ đàm cấp cao. Ảnh: Hứa Chung – TTXVN
Thành phố cũng chú trọng các lĩnh vực như dữ liệu lớn, bán dẫn, an ninh mạng và những công nghệ gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hình thành doanh nghiệp từ viện, trường được kỳ vọng thúc đẩy quá trình đưa công nghệ ra thị trường.
Theo ông Nguyễn Hữu Yên, việc hoàn thiện khung pháp lý, ưu đãi thuế và cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học cũng là những yếu tố cần thiết để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ mới là điều kiện ban đầu. Thách thức nằm ở khả năng kết nối viện, trường với doanh nghiệp, đưa công nghệ từ nghiên cứu và thử nghiệm vào sản xuất, đồng thời tạo đầu ra cho các giải pháp đổi mới. Nếu thiếu cơ chế thương mại hóa hiệu quả, nhiều nghiên cứu có thể dừng ở quy mô thử nghiệm, trong khi doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào công nghệ được phát triển và chuẩn hóa ở nước ngoài.
Các chuyên gia cho rằng, việc tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có lợi thế như logistics, công nghệ số và hạ tầng xanh có thể tạo cơ sở để doanh nghiệp phát triển giải pháp phù hợp với nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, để những giải pháp này trở thành tiêu chuẩn có sức lan tỏa, cần chứng minh được hiệu quả, bảo đảm độ tin cậy và có khả năng nhân rộng. Vì vậy, cạnh tranh bằng định chuẩn không chỉ là cuộc đua về chứng nhận hay mức độ tuân thủ. Đó là quá trình chuyển năng lực sản xuất thành năng lực công nghệ, từ đổi mới sáng tạo thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/doanh-nghiep-canh-tranh-bang-dinh-chuan-quoc-te/440623.html


