Doanh nghiệp khai thác cảng hàng không phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn an toàn, an ninh mới
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 205/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 quy định về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh, trong đó quy định cụ thể điều kiện kinh doanh cảng hàng không, điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không và trình tự, thủ tục cấp giấy phép hoạt động...

Ảnh minh họa
Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh cảng hàng không phải đáp ứng các điều kiện về vốn và nhân sự. Cụ thể, doanh nghiệp phải có vốn chủ sở hữu tối thiểu 100 tỷ đồng và tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có bộ máy và nhân sự đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện công tác an toàn hàng không, an ninh hàng không và khai thác cảng hàng không. Trong đó, nhân sự phụ trách an toàn hàng không phải có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện về hệ thống quản lý an toàn hàng không. Nhân sự phụ trách an ninh hàng không phải đáp ứng các quy định của pháp luật chuyên ngành.
Nghị định cũng quy định giấy phép kinh doanh cảng hàng không được cấp cho doanh nghiệp để kinh doanh tại một hoặc nhiều cảng hàng không. Trường hợp thay đổi phạm vi kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy phép.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép được gửi tới Cục Hàng không Việt Nam. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện thẩm định hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ nếu cần thiết, đồng thời lấy ý kiến Bộ Xây dựng. Bộ Xây dựng có trách nhiệm phản hồi trong thời hạn 3 ngày làm việc. Sau khi nhận được ý kiến của Bộ Xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam cấp giấy phép trong thời hạn 2 ngày làm việc.
Đáng chú ý, nghị định đã quy định cụ thể 5 trường hợp bị hủy bỏ giấy phép kinh doanh cảng hàng không.
Theo đó, giấy phép sẽ bị hủy bỏ nếu doanh nghiệp không duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu trong thời gian 2 năm liên tục; cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ đề nghị cấp phép; không được cấp Giấy chứng nhận cảng hàng không trong vòng 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh; không duy trì đủ điều kiện kinh doanh và không hoàn thành việc khắc phục vi phạm trong thời hạn 30 ngày làm việc theo yêu cầu của Cục Hàng không Việt Nam; hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc theo đề nghị của chính doanh nghiệp.
Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, nghị định quy định doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về tổ chức bộ máy nhân lực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và hệ thống tài liệu bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường.
Trong đó, nhân sự phụ trách công tác bảo đảm an toàn hàng không phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này và đã tham gia các khóa đào tạo về hệ thống quản lý an toàn hàng không.
Doanh nghiệp cũng phải xây dựng hệ thống tài liệu bao gồm hệ thống quản lý an toàn; phương án ứng phó khẩn nguy; chương trình an ninh hàng không; quy trình phòng, chống dịch bệnh; quy trình cung cấp dịch vụ; phương án dự phòng về nhân lực, phương tiện, trang thiết bị; phương án chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và hồ sơ bảo vệ môi trường theo quy định.
Về điều kiện tài chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa, kho hàng hóa hoặc dịch vụ xăng dầu hàng không phải có vốn chủ sở hữu tối thiểu 30 tỷ đồng. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa và dịch vụ kỹ thuật thương mại mặt đất không vượt quá 30% vốn điều lệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.
Nghị định số 205/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.













