Doanh nghiệp mắc kẹt giữa áp lực giảm phát thải và cơn khát tín chỉ carbon
Việc phát thải vượt hạn ngạch buộc doanh nghiệp phải mua thêm tín chỉ carbon hoặc đầu tư công nghệ xanh. Tuy nhiên, khi cơ chế giao dịch và nguồn cung tín chỉ vẫn chưa rõ ràng, không ít doanh nghiệp rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan trong bài toán vừa đảm bảo sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu giảm phát thải.
Ông Nguyễn Văn Duy, đại diện doanh nghiệp thép ở TPHCM, cho biết, đầu tư cho sản xuất giảm phát thải thì rất lớn, còn nếu không đáp ứng về phát thải thì doanh nghiệp sẽ bị phạt. Trong khi các quy trình mua bán tín chỉ vẫn chưa rõ ràng.
Tiến thoái lưỡng nan
Phân tích về kịch bản ứng phó, TS. Nguyễn Sĩ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu ISPAE, Bộ NN&MT, cho biết nếu doanh nghiệp không đáp ứng được mức phát thải được phân bổ chỉ có thể xử lý bằng hai con đường cốt lõi.
Một là tự thân doanh nghiệp đó phải điều chỉnh bằng cách đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình hoặc giảm quy mô sản xuất để kéo lượng phát thải xuống dưới mức trần quy định. Hai là doanh nghiệp tham gia thị trường trao đổi để mua lại hạn ngạch từ các doanh nghiệp khác nhằm bù đắp phần thiếu hụt.
Trên thực tế, phương án đầu tiên là đổi mới công nghệ đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn và cần thời gian dài để chuyển giao. Ví dụ, tại một số nhà máy xi măng thuộc nhóm 110 cơ sở thí điểm, việc chuyển đổi từ lò nung thế hệ cũ sang hệ thống tận dụng nhiệt dư để phát điện đòi hỏi chi phí lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng.

Mua tín chỉ các-bon để bù vào phần thiếu là hướng đi khả thi hơn cho nhiều doanh nghiệp thời điểm này.
Do đó, trong ngắn hạn, giải pháp trao đổi, mua bán quyền phát thải giữa các doanh nghiệp với nhau (mua lại phần hạn ngạch dư thừa từ những đơn vị làm tốt) thông qua sàn giao dịch và tuân thủ theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP là hướng đi khả thi hơn cả để đảm bảo tính liên tục của sản xuất.
Bên cạnh việc mua bán hạn ngạch trực tiếp giữa các cơ sở tuân thủ, giải pháp sử dụng tín chỉ các-bon từ thị trường tự nguyện bên ngoài để bù trừ cũng được tính đến. Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp bắt buộc được phép sử dụng tín chỉ các-bon hợp pháp để bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ nộp trả hạn ngạch.
Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất hiện nay là nguồn cung từ thị trường tự nguyện bên ngoài hệ thống vẫn chưa thực sự rõ ràng. Do sàn giao dịch nội địa và Hệ thống đăng ký quốc gia (NRS) đang trong giai đoạn hoàn thiện cơ chế bù trừ nên các doanh nghiệp tuân thủ đang rơi vào trạng thái "tiến thoái lưỡng nan" vì chưa biết cụ thể phải mua tín chỉ ở đâu, quy trình thủ tục như thế nào và mức giá bao nhiêu là hợp lý.
Sự thiếu vắng một quy trình hướng dẫn cụ thể về cách thức tuân thủ khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc cân đối năng lực sản xuất, dự toán chi phí môi trường và rủi ro pháp lý.
Do đó, theo TS. Nguyễn Sĩ Linh, việc làm rõ các cơ chế kỹ thuật để doanh nghiệp tuân thủ là yêu cầu cấp bách, giúp họ chủ động định biên tài chính để vừa đảm bảo yêu cầu giảm phát thải, vừa duy trì biên độ lợi nhuận.
Sự phân hóa dòng tiền
Hiện nay, các HTX nông - lâm nghiệp và dự án xanh chính là nguồn cung cấp tín chỉ các-bon tiềm năng cho thị trường tự nguyện, nhằm giúp các doanh nghiệp công nghiệp nặng bù đắp 30% thiếu hụt. Tuy nhiên, nguồn cung này đang có sự phân hóa lớn về giá.
Nếu trước đây, thị trường thường nhìn nhận một tấn CO₂ giảm phát thải ở các dự án là tương đối đồng nhất, thì hiện nay giá trị của tín chỉ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dự án, mức độ minh bạch dữ liệu, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả đánh giá tín nhiệm của các tổ chức độc lập.
Ông Nguyễn Hữu Tuệ, Giám đốc HTX chăn nuôi Nguyễn Gia (Hưng Yên), cho biết giá tín chỉ carbon tại HTX hiện là hơn 2 USD/tín chỉ nhưng trong cùng lĩnh vực, giá tín chỉ các-bon vẫn có thể có giá khác nhau dựa vào quy trình áp dụng công nghệ chăn nuôi, tiêu chuẩn chứng nhận nội địa hay quốc tế, lượng giảm phát thải thực tế, ý nghĩa cộng đồng…
Ông Nguyễn Trung Thông, chuyên gia các-bon rừng của Forest Trend, cho biết ngay cả khi thuộc cùng một loại hình dự án rừng, sự khác biệt về kết quả xếp hạng tín nhiệm có thể đẩy mức chênh lệch giá trị giao dịch lên tới 5 lần.
Ngay trong lĩnh vực lâm nghiệp, dựa trên dữ liệu do Sylvera và Ngân hàng Thế giới, các dự án đạt mức xếp hạng tín nhiệm cao từ BBB trở lên có thể định giá lên tới khoảng 30 USD cho mỗi tấn CO₂ tương đương. Đối với các dự án có chất lượng trung bình thấp với mức xếp hạng dưới BB, giá trị của tín chỉ chỉ còn quanh mức 8.70 USD. Dự án chưa được tiến hành xếp hạng tín nhiệm khi mức giá thu mua chỉ dao động ở ngưỡng 6.30 USD.
Còn xét theo loại hình công nghệ và địa lý tính đến ngày 01/04/2026, giá của tín chỉ các-bon rừng có sự phân hóa rất rõ ràng thông qua dữ liệu từ S&P Platts và Ngân hàng Thế giới.
Tín chỉ từ các dự án ARR với mức giá khoảng 14 USD cho mỗi tấn CO₂ tương đương. Đối với loại hình REDD+ tại khu vực Đông Nam Á, giá giao dịch đạt mức khoảng 12 USD. Cùng loại hình này nhưng tại khu vực Nam Mỹ, giá tín chỉ chỉ duy trì ở mức thấp quanh ngưỡng 7 USD. Đối với nhóm tín chỉ đáp ứng tiêu chuẩn CORSIA (CEC), mức giá đạt khoảng 15 USD. Trong khi đó, nhóm tín chỉ chưa đủ điều kiện CORSIA (Pre-CEC) chỉ rơi vào khoảng từ 1.5-3 USD cho mỗi tấn phát thải.
Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng, người mua hiện nay không chỉ mua một tấn CO₂ giảm phát thải mà còn mua sự tin cậy đi kèm với tín chỉ đó.
Đối với Việt Nam, điều này cho thấy lợi thế cạnh tranh trong tương lai sẽ không nằm ở việc tạo ra nhiều tín chỉ hơn mà ở khả năng tạo ra các tín chỉ có chất lượng cao hơn.
Một dự án sản xuất được xây dựng với hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định minh bạch; có quyền các-bon rõ ràng; được giám sát bằng công nghệ số và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế hoàn toàn có thể đạt mức giá cao hơn đáng kể so với những dự án chỉ tập trung vào sản lượng hấp thụ các-bon.
Theo các chuyên gia, đây cũng là định hướng mà các HTX, doanh nghiệp Việt Nam cần theo đuổi trong giai đoạn tới. Thay vì cạnh tranh bằng số lượng tín chỉ, cần đầu tư vào chất lượng dự án, nâng cao độ tin cậy của dữ liệu và chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế để tiếp cận phân khúc khách hàng sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn. Và việc mua tín chỉ các-bon để bù đắp phần thiếu hụt thực chất chỉ là giải pháp tình thế, còn phần gốc vẫn là đầu tư sản xuất xanh.











