Doanh nghiệp Việt khó lớn: Những 'chi phí vô hình' đang bào mòn động lực tăng trưởng?

Khi khoảng cách giữa chủ trương và khâu thực thi chưa được thu hẹp, những 'chi phí vô hình' từ thủ tục, thời gian chờ đợi, quy định chồng chéo và rủi ro pháp lý vẫn tiếp tục bào mòn nguồn lực, làm chậm quá trình lớn lên của doanh nghiệp và cả nền kinh tế.

Điểm nghẽn không chỉ nằm ở chủ trương

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc huy động nguồn lực xã hội, mở rộng sản xuất, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đánh dấu bước chuyển lớn về tư duy khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến những chuyển biến mà doanh nghiệp thực sự cảm nhận được vẫn còn một khoảng cách không nhỏ.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Tại Hội thảo “Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp” vừa qua, ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở chủ trương mà còn nằm ở khâu tổ chức thực thi. Doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, quy định chồng chéo, kiểm tra chuyên ngành và môi trường pháp lý thiếu ổn định, khó dự báo.

Theo ông Hồ Sỹ Hùng, dư địa tăng trưởng lớn của Việt Nam trong giai đoạn tới nằm ở cải cách thể chế. Tuy nhiên, cải cách không thể chỉ dừng lại ở việc cắt giảm một số giấy phép, điều kiện kinh doanh hoặc rút gọn thủ tục trên văn bản. Điều quan trọng hơn là phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang phục vụ và kiến tạo, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, an toàn và có khả năng dự báo.

Việc rà soát, sửa đổi pháp luật cũng cần được thực hiện từ góc nhìn của doanh nghiệp, qua đó nhận diện đúng những điểm nghẽn đang làm chậm dòng chảy đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Một quy định có thể hợp lý về mặt quản lý nhà nước nhưng nếu làm phát sinh quá nhiều thời gian, chi phí hoặc tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau thì vẫn có thể trở thành lực cản đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp vì thế cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Đây là lực lượng trực tiếp chuyển hóa chính sách thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm, nguồn thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế. Khi môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, doanh nghiệp có thêm niềm tin để đầu tư dài hạn, mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước cũng như toàn cầu.

Dù vậy, cải cách từ phía Nhà nước cũng cần song hành với sự đổi mới của chính doanh nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp không thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào lao động giá rẻ hoặc lợi thế chi phí thấp. Năng suất, công nghệ, chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và xây dựng thương hiệu mới là những nền tảng quyết định khả năng vươn xa.

Nhìn rộng hơn, đây còn là yêu cầu thay đổi tư duy quản trị. Khi doanh nghiệp được coi là đối tác đồng hành trong phát triển thay vì chỉ là đối tượng quản lý, cải cách sẽ không còn được đánh giá đơn thuần bằng số thủ tục đã cắt giảm hoặc số văn bản đã sửa đổi. Thước đo quan trọng hơn phải là thời gian tuân thủ có giảm hay không, chi phí thực tế của doanh nghiệp có thấp hơn hay không và niềm tin vào môi trường đầu tư có được củng cố hay không.

Cải cách phải được đo bằng trải nghiệm của doanh nghiệp

Lý giải vì sao khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn chưa được thu hẹp như kỳ vọng, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, cho rằng những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Một số kết quả bước đầu đã được ghi nhận khi số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện giảm từ 227 xuống còn 198. Chính phủ cũng đặt mục tiêu tiếp tục cắt giảm thêm 56 ngành, nghề, đưa tổng số xuống còn 142, đồng thời ban hành nhiều nghị quyết nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.

Cải cách chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, giảm được chi phí... Ảnh minh họa

Cải cách chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, giảm được chi phí... Ảnh minh họa

Tuy nhiên, khoảng cách giữa những thay đổi trên văn bản với cảm nhận thực tế của cộng đồng doanh nghiệp vẫn còn khá xa. Theo tổng hợp của VCCI, doanh nghiệp hiện vẫn phản ánh khoảng 900 khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Con số này không chỉ phản ánh số lượng bất cập trong hệ thống pháp luật mà còn cho thấy những điểm nghẽn vẫn tồn tại ở nhiều khâu của quá trình thực thi. Không ít quy định sau khi được cắt giảm lại được thay thế bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn hoặc quy trình mới. Có trường hợp quy định cũ đã hết hiệu lực nhưng văn bản hướng dẫn chưa được ban hành kịp thời. Cũng có tình trạng cùng một quy định nhưng mỗi cơ quan, mỗi địa phương lại có cách hiểu và áp dụng khác nhau.

Hệ quả là doanh nghiệp vẫn phải dành nhiều thời gian, chi phí và nguồn lực để hoàn tất những thủ tục lẽ ra đã được đơn giản hóa. Đáng lo hơn, sự thiếu nhất quán trong thực thi còn làm gia tăng rủi ro pháp lý, khiến doanh nghiệp thận trọng hơn khi quyết định mở rộng đầu tư.

Bởi vậy, cải cách thể chế không nên chỉ được đo bằng số lượng điều kiện kinh doanh đã cắt giảm. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có thực sự thấy thủ tục thuận lợi hơn không, hồ sơ có được xử lý nhanh hơn không, chi phí tuân thủ có giảm xuống không và những vướng mắc phát sinh có được giải quyết kịp thời hay không.

Ở góc độ hoàn thiện thể chế, ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đề xuất cần có một tổ công tác đặc biệt với địa chỉ cụ thể và đủ thẩm quyền tiếp nhận, xử lý trực tiếp những vướng mắc về thủ tục cho doanh nghiệp và người dân.

Theo ông, cần chuyển mạnh từ việc tập trung ban hành chính sách sang theo dõi, đánh giá nội dung và hiệu quả thực thi chính sách. Một quy định dù được xây dựng với mục tiêu tốt nhưng nếu không được thực hiện thống nhất, không giải quyết được vấn đề trong thực tiễn hoặc làm phát sinh thêm chi phí thì vẫn cần tiếp tục được rà soát, điều chỉnh.

Cải cách vì thế chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp cảm nhận được sự thay đổi trong quá trình hoạt động. Một thủ tục không thể được coi là đã cải cách chỉ vì văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi. Cải cách chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, giảm được chi phí, hạn chế được rủi ro và có thể triển khai dự án nhanh hơn.

Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho rằng nhận định doanh nghiệp Việt Nam “ngại lớn” chưa phản ánh đầy đủ thực tế. Doanh nghiệp không thiếu khát vọng phát triển, nhưng họ phải cân nhắc những rủi ro và chi phí có thể phát sinh khi mở rộng quy mô.

Khi doanh nghiệp lớn hơn, áp lực tuân thủ, thanh tra, kiểm tra, báo cáo và thực hiện các quy định pháp luật cũng gia tăng. Nếu môi trường pháp lý chưa đủ ổn định và minh bạch, việc mở rộng quy mô có thể đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn.

Vì vậy, điều cộng đồng doanh nghiệp cần không chỉ là thêm những chính sách hỗ trợ hay ưu đãi ngắn hạn, mà trước hết là một môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch và an toàn để có thể yên tâm xây dựng chiến lược dài hạn. Mỗi quy định mới cần được đánh giá kỹ từ góc nhìn của doanh nghiệp: doanh nghiệp sẽ mất bao nhiêu thời gian để thực hiện, phải bỏ ra bao nhiêu chi phí và quy định đó có thực sự khả thi trong thực tế hay không.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần có thêm nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao và đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng để hình thành được những doanh nghiệp như vậy, điều kiện tiên quyết không phải chỉ là thêm một gói ưu đãi hay một chính sách hỗ trợ, mà là tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và thực thi.

Cải cách thể chế không nên được đo bằng số nghị định đã ban hành hay số thủ tục đã bãi bỏ, mà bằng những thay đổi doanh nghiệp thực sự cảm nhận được: ít thời gian hơn cho thủ tục, ít chi phí tuân thủ hơn, ít rủi ro pháp lý hơn và nhiều cơ hội đầu tư hơn.

Khi những “chi phí vô hình” ấy được cắt giảm, doanh nghiệp mới có thể lớn lên bằng chính năng lực của mình. Khi đó, khu vực kinh tế tư nhân mới thực sự phát huy vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 68.

Đức Thuận

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/doanh-nghiep-viet-kho-lon-nhung-chi-phi-vo-hinh-dang-bao-mon-dong-luc-tang-truong-184730.html