Doanh nghiệp Việt Nam: Rèn luyện trong thời chiến và khát vọng vươn ra thế giới
Từ năm 1945 đến vài chục năm sau đó cộng đồng doanh nghiệp có số lượng rất khiêm tốn và chủ yếu mang sứ mệnh phục vụ kháng chiến, kiến quốc thì đến năm 2026 Việt Nam đã có hơn một triệu doanh nghiệp hoạt động, đóng góp hơn 60% GDP và tạo việc làm cho trên 17,6 triệu lao động...

Từ những cơ sở sản xuất, thương nghiệp ra đời trong những ngày đầu giành độc lập, trải qua hai cuộc kháng chiến, thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, công cuộc Đổi mới và hơn ba thập niên hội nhập, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã đi qua một hành trình đặc biệt.
Những năm tới, vấn đề của chúng ta không còn đơn thuần là có bao nhiêu doanh nghiệp, mà là làm thế nào để hình thành một thế hệ doanh nghiệp có năng suất cao, công nghệ mạnh, thương hiệu toàn cầu và đủ sức dẫn dắt nền kinh tế.
TINH THẦN DOANH NHÂN TRONG HOÀN CẢNH KHẮC NGHIỆT
Ngày 2/9/1945 mở ra một chương mới của dân tộc, nhưng nền kinh tế của nước Việt Nam độc lập khi đó gần như bắt đầu từ những điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Chính quyền cách mạng phải đồng thời đối mặt với giặc đói, giặc dốt và nguy cơ ngoại xâm, nền công nghiệp và thương mại chịu hậu quả nặng nề từ chế độ thực dân, phát xít.
Trong bối cảnh ấy, hoạt động sản xuất, thương mại không thể đặt nặng mục tiêu lợi nhuận như trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Sản xuất phải phục vụ đời sống, hậu cần và kháng chiến, thương mại phải bảo đảm lưu thông hàng hóa, huy động nguồn lực cho nền kinh tế non trẻ.

Doanh nhân Bạch Thái Bưởi
Giai đoạn 1945-1954 vì thế có thể xem là giai đoạn đặt nền móng cho một nền kinh tế độc lập. Công nghiệp và thương mại được tổ chức lại trong điều kiện chiến tranh, nhiều cơ sở sản xuất phải di chuyển, phân tán vừa sản xuất vừa bảo đảm an toàn. Nhà nước từng bước xây dựng năng lực sản xuất trong nước, hình thành những cơ sở công nghiệp phục vụ nhu cầu thiết yếu và quốc phòng.
Trong giai đoạn này, nhiều xí nghiệp, nhà máy quốc phòng và doanh nghiệp tư nhân đã ra đời hoặc chuyển hướng hoạt động để phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu biểu như Tổng Công ty May 10 thành lập ngày 8/1/1946 với tên gọi đầu tiên là Xưởng may quân trang, chuyên sản xuất trang phục cho quân đội và nhân dân kháng chiến; Nhà máy In Tiến Bộ, tiền thân là các cơ sở in của Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc in ấn tài liệu, truyền đơn, sách báo tuyên truyền của Đảng và Nhà nước trong suốt chiều dài kháng chiến; Các xưởng chế tạo vũ khí, đạn dược nằm trong rừng sâu ở chiến khu Việt Bắc (như Xưởng Z1, các xưởng cơ khí của Trần Đại Nghĩa) tuy không phải doanh nghiệp thương mại thuần túy nhưng là mô hình sản xuất - công nghiệp tiêu biểu nhất thời kháng chiến.
Thời kỳ này, chúng ta không thể không nhắc tới những nhà tư sản yêu nước tiêu biểu như Trịnh Văn Bô - Chủ hiệu vải Lợi Hưng nổi tiếng ở Hà Nội, cùng vợ hiến tặng hàng ngàn lạng vàng cho "Tuần lễ Vàng" và hiến căn nhà số 48 Hàng Ngang làm nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn Độc lập; Đỗ Đình Thiện - Nhà tư sản lớn chuyên xuất khẩu tơ lụa, đã mua đứt nhà in Farner để hiến cho Chính phủ làm nhà máy in tiền và ủng hộ số tiền lớn cùng đồn điền Chi Nê cho kháng chiến; Bạch Thái Bưởi - "Vua tàu thủy" Việt Nam đầu thế kỷ XX, nổi danh với khẩu hiệu "Người Việt đi tàu Việt", cạnh tranh sòng phẳng với tư bản Pháp và Hoa kiều; Nguyễn Sơn Hà - Chủ hãng sơn dầu Resoco nổi tiếng, nhà tư sản đất Cảng Hải Phòng tích cực tham gia các hoạt động tài chính hỗ trợ Việt Minh.
Điều đáng chú ý là trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, tinh thần tự chủ về sản xuất đã trở thành một giá trị xuyên suốt lịch sử kinh tế Việt Nam. Một nền kinh tế vừa giành độc lập không thể phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài, vì thế muốn tồn tại phải tự sản xuất những thứ thiết yếu nhất. Đó là bài học vẫn còn nguyên giá trị sau 81 năm kể từ ngày giành được độc lập là năng lực tự chủ của nền kinh tế bắt đầu từ năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Sau năm 1954, đất nước bước vào một giai đoạn đặc biệt khi hai miền tồn tại hai mô hình kinh tế khác nhau. Ở miền Bắc, nền kinh tế từng bước được tổ chức theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị kinh tế tập thể trở thành lực lượng chủ yếu trong công nghiệp, thương mại và phân phối. Trong điều kiện chiến tranh, các doanh nghiệp vừa sản xuất vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, bảo đảm hàng hóa thiết yếu và duy trì năng lực sản xuất.
Chiến tranh phá hoại khiến nhiều nhà máy, xí nghiệp phải sơ tán, phân tán sản xuất. Nhưng chính trong điều kiện đó, một nền công nghiệp quốc doanh đã hình thành và phát triển ở mức nhất định, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa sau này.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Bắc, các nhà tư sản dân tộc lớn từ thời kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Sơn Hà, Đỗ Đình Thiện... đã hiến tài sản, tham gia quản lý các xí nghiệp nhà nước, hợp tác xã hoặc đóng góp công sức vào công cuộc khôi phục kinh tế và chi viện cho tiền tuyến. Trong khi đó, ở miền Nam nhiều nhà công thương, tiểu thương giữ vững tinh thần dân tộc, bí mật hỗ trợ tài chính, cung cấp huyết mạch kinh tế, thuốc men, nhu yếu phẩm cho lực lượng cách mạng nằm vùng. Nhiều chiến sĩ, thương binh sau ngày giải phóng như cựu chiến binh Đinh Văn Lời tiếp tục chuyển hướng sang làm kinh tế, trở thành thế hệ doanh nhân đặt nền móng cho giai đoạn Đổi mới sau này.
Giai đoạn này chúng ta xây dựng và phát triển hệ thống công nghiệp quốc phòng (như các phân xưởng thuộc Đoàn 86, Z28) chuyên sản xuất vũ khí, đạn, ống phóng lựu phục vụ các chiến trường lớn. Hình thành các cơ sở công nghiệp nặng nền tảng ở miền Bắc như Khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên và Nhà máy Cơ khí Hà Nội để hậu thuẫn cho kinh tế và quốc phòng.
Trong khi đó, tại miền Nam nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với sự tồn tại của khu vực tư nhân, doanh nghiệp thương mại và các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng hơn.
Hai mô hình kinh tế khác nhau tạo nên những đặc điểm khác nhau về cộng đồng doanh nghiệp, nhưng điểm chung là trong chiến tranh khiến phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh phải đặt dưới những mục tiêu lớn hơn lợi nhuận là bảo đảm đời sống, duy trì sản xuất và phục vụ chiến trường.
Nếu nhìn từ góc độ lịch sử doanh nghiệp, đây là giai đoạn hình thành những thế hệ doanh nhân, kỹ sư, công nhân và nhà quản lý đầu tiên của nền kinh tế hiện đại Việt Nam. Họ không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tích lũy năng lực tổ chức sản xuất trong những điều kiện thiếu thốn chưa từng có.
CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP ĐI QUA MỘT CUỘC "ĐỔI ĐỜI"
Năm 1975 đất nước thống nhất. Nhưng phải thừa nhận rằng thống nhất về lãnh thổ không đồng nghĩa nền kinh tế lập tức có thể vận hành bình thường.
Những năm sau thống nhất, Việt Nam tiếp tục duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khu vực kinh tế nhà nước giữ vị trí chủ đạo, sản xuất, phân phối, giá cả và lưu thông chịu sự điều tiết mạnh của Nhà nước.

Tên gọi đầu tiên của MAY 10 là Xưởng may quân trang, chuyên sản xuất trang phục cho quân đội và nhân dân kháng chiến
Cơ chế này phù hợp với yêu cầu huy động nguồn lực trong những điều kiện đặc biệt của chiến tranh và hậu chiến, nhưng dần bộc lộ những hạn chế khi nền kinh tế chuyển sang yêu cầu phát triển trong thời bình.
Sản xuất thiếu động lực, hiệu quả thấp, thị trường hàng hóa chưa phát triển đầy đủ. Doanh nghiệp chủ yếu thực hiện kế hoạch được giao thay vì tự tìm kiếm thị trường, đổi mới sản phẩm và cạnh tranh.
Và bước ngoặt lịch sử xuất hiện năm 1986 với công cuộc Đổi mới. Công cuộc Đổi mới này không đơn thuần là thay đổi một số chính sách kinh tế. Đó là quá trình thay đổi tư duy về vai trò của thị trường, doanh nghiệp và người sản xuất. Từ chỗ doanh nghiệp chủ yếu là công cụ thực hiện kế hoạch, doanh nghiệp từng bước trở thành chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây chính là bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử phát triển doanh nghiệp Việt Nam sau năm 1945.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Đổi mới là sự trở lại và phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân. Luật Doanh nghiệp năm 1999 tạo thêm một bước tiến quan trọng khi mở rộng quyền tự do kinh doanh và giảm đáng kể rào cản gia nhập thị trường. Sau đó, các luật khác liên quan đến doanh nghiệp tiếp tục được sửa đổi, môi trường đầu tư kinh doanh từng bước được cải thiện.
Từ đây, doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu chuyển từ tư duy sản xuất cái mình có sang sản xuất cái thị trường cần. Các doanh nghiệp tư nhân xuất hiện trong hàng loạt lĩnh vực như sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, dệt may, da giày, xây dựng, logistics, bán lẻ, công nghệ, dịch vụ...
Cùng với đó là quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sự xuất hiện của các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn và sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nếu những năm đầu Đổi mới, câu chuyện lớn nhất là giải phóng sức sản xuất, thì những thập niên tiếp theo, câu chuyện chuyển dần sang nâng cao năng lực cạnh tranh.
HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CUỘC THỬ SỨC CHƯA TỪNG CÓ
Phải khẳng định hội nhập quốc tế đã làm thay đổi căn bản môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới của Việt Nam được bắt đầu bằng việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ký các hiệp định thương mại song phương, tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) với Hoa Kỳ và đặc biệt gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007.
Việc trở thành thành viên thứ 150 của WTO được đánh giá là một dấu mốc quan trọng, đưa nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn với kinh tế thế giới.
Sau WTO là hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương khác.

Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới khiến không gian thị trường của doanh nghiệp Việt Nam vì thế đã thay đổi hoàn toàn. Một doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam ngày nay không chỉ cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu, Mỹ và nhiều nền kinh tế khác.
Dù khốc liệt là vậy, nhưng hội nhập cũng tạo ra cơ hội chưa từng có. Cụ thể, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, tiếp cận thị trường hàng trăm triệu người tiêu dùng, thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và tiêu chuẩn sản xuất quốc tế. Và dệt may, da giày, điện tử, đồ gỗ, nông sản, thủy sản, máy móc và nhiều ngành hàng khác đã trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Tuy nhiên, hội nhập cũng bộc lộ một nghịch lý là Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp nhưng số doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế.
Về quy mô, cộng đồng doanh nghiệp hôm nay cho thấy khoảng cách rất lớn so với thời điểm đầu Đổi mới. Năm 2025, Việt Nam có gần 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 24,1% so với năm trước, hơn 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt gần 297,5 nghìn, tăng 27,4%. Đáng chú ý, số doanh nghiệp đang hoạt động đã vượt mốc một triệu.
Đến hết tháng 6/2026, cả nước có gần 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng vốn đăng ký trên 30,6 triệu tỷ đồng. Khu vực doanh nghiệp đóng góp hơn 60% GDP, tạo việc làm cho trên 17,6 triệu lao động và đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất nhập khẩu.

Những con số này cho thấy doanh nghiệp đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất của nền kinh tế. Nhưng nhìn nhận vào thực tế, số lượng không đồng nghĩa với sức mạnh.
Sáu tháng đầu năm 2026, bên cạnh gần 111,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, vẫn có 85,9 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 41,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể và gần 24 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Điều đó cho thấy sức khỏe doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đồng đều.
Một bộ phận doanh nghiệp có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị tốt đang mở rộng nhanh, trong khi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn dễ tổn thương trước biến động thị trường, chi phí vốn, chi phí logistics, yêu cầu tiêu chuẩn xanh và những thay đổi ngày càng nhanh của công nghệ.
Sau 81 năm, bài toán của doanh nghiệp Việt Nam đã thay đổi. Ngày trước, câu hỏi là làm thế nào để có hàng hóa, có nhà máy, có doanh nghiệp, thì ngày nay câu hỏi là làm thế nào để doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn.
Năng suất lao động, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thương hiệu, quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng đang trở thành những yếu tố quyết định. Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra một sự phân hóa mới. Doanh nghiệp nhanh chóng ứng dụng AI, dữ liệu lớn, tự động hóa, thương mại điện tử và công nghệ sản xuất thông minh có thể mở rộng rất nhanh. Ngược lại, doanh nghiệp chậm chuyển đổi có nguy cơ bị đẩy ra khỏi thị trường.
Nhìn lại từ ngày 2/9/1945 đến năm 2026, lịch sử doanh nghiệp Việt Nam phản chiếu gần như đầy đủ những bước thăng trầm của đất nước. Việt Nam đã có một cộng đồng doanh nghiệp có quy mô chưa từng có, nhưng chặng đường phía trước còn lớn hơn nhiều.
Và mục tiêu không nên dừng lại ở một triệu hay hai triệu doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là Việt Nam phải có những doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư dài hạn, đủ mạnh về công nghệ, đủ uy tín về thương hiệu và đủ năng lực để đứng trong những vị trí có giá trị cao nhất của chuỗi cung ứng toàn cầu.
