Doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu: Cần đổi trọng tâm ưu đãi thuế
Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VTCA cho rằng, khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, chính sách thuế cần chuyển trọng tâm từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”.
Đổi trọng tâm ưu đãi thuế
Theo bà Lê Thị Duyên Hải, hệ thống chính sách thuế luôn được thiết kế như một đòn bẩy quan trọng. Các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo ngành nghề, theo địa bàn hay chính sách hoàn thuế đối với dự án đầu tư, xuất khẩu và miễn, giảm tiền thuê đất... trong nhiều năm qua đã tạo động lực phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và tạo đà cho doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ, thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm phát triển nhanh và khuyến khích xuất khẩu.
Cụ thể, các chính sách ưu đãi đối với khoa học, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu AI, sản xuất sản phẩm số, năng lượng sạch và một số lĩnh vực ưu tiên với thuế suất 10% trong 15 năm; chi phí R&D của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ tối đa không quá 200% chi phí thực tế đủ điều kiện; cơ chế khấu trừ, hoàn thuế, trong đó hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đáp ứng điều kiện và có số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên được hoàn thuế theo tháng/quý...

Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam.
Tuy nhiên, theo Phó chủ tịch VTCA, các chính sách ưu đãi, miễn, giảm, hoàn thuế cũng phát sinh một số hạn chế. Ưu đãi theo địa bàn có thể dẫn tới doanh nghiệp di chuyển địa điểm để hưởng ưu đãi nhưng năng lực sản xuất không tăng đáng kể. Ưu đãi dựa vào quy mô vốn khiến không nhất thiết doanh nghiệp vốn lớn là doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao. Ưu đãi thuế quá dài dễ tạo ra “doanh nghiệp sống bằng ưu đãi”, sau khi hết ưu đãi thì mất lợi thế. Ưu đãi không gắn với kết quả có thể dẫn đến việc Nhà nước giảm thuế nhưng không chắc doanh nghiệp tăng R&D, năng suất, xuất khẩu hay nội địa hóa.
Trước thực tế chuỗi cung ứng toàn cầu đang có sự điều chỉnh mạnh theo hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường, tăng khả năng chống chịu và rút ngắn chuỗi cung ứng, Việt Nam có cơ hội tiếp nhận thêm các dự án, đơn hàng và công đoạn sản xuất dịch chuyển vào khu vực Đông Nam Á...
Bà Lê Thị Duyên Hải cho rằng, trong thời gian tới, chính sách thuế cần chuyển trọng tâm từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”. Đây mới là cách chính sách thuế nhằm mục tiêu để Việt Nam không chỉ trở thành nơi các tập đoàn chuyển nhà máy đến, mà trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chính sách thuế không chỉ để giảm nghĩa vụ thuế, mà quan trọng hơn là tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam thay đổi mô hình tăng trưởng.
Theo đó, trọng tâm của chính sách cần tạo ra một hệ thống ưu đãi thuế hiệu quả, hướng doanh nghiệp đến chuỗi kết quả là “Công nghệ – R&D – Nhân lực – Chuỗi cung ứng – Thị trường toàn cầu”.
“Nếu thực hiện được định hướng này, chính sách thuế sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí trong ngắn hạn mà còn góp phần hình thành mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn đa quốc gia, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu”, bà Hải bày tỏ.
Trong đó, cần đặc biệt lưu ý để thiết kế gói chính sách “Doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng”, bởi điểm yếu hiện nay không chỉ là thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà là làm sao để doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung cấp của các doanh nghiệp nước ngoài.

(Ảnh minh họa)
Đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi cung ứng
Theo bà Duyên Hải, việc nghiên cứu bổ sung các chính sách ưu đãi về thuế dựa trên các tiêu chí: công nghệ, sản xuất, chuỗi cung ứng và xuất khẩu.
Phó chủ tịch VTCA kiến nghị 8 giải pháp cần tập trung. Thứ nhất, tăng cường ưu đãi thuế cho R&D theo hướng nghiên cứu bổ sung cơ chế khấu trừ thuế cho R&D theo một tỷ lệ nhất định (10%, 20% tùy theo lĩnh vực ưu tiên) và cho phép được chuyển tiếp số chưa khấu trừ hết sang một số năm tiếp theo, nhằm giúp doanh nghiệp Việt chuyển từ gia công sang thiết kế – phát triển – sở hữu công nghệ – sản xuất.
Thứ hai, khuyến khích khấu hao nhanh máy móc, tự động hóa và AI. Theo bà Hải, giải pháp này giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền trong giai đoạn đầu tư mà không làm giảm tổng thuế phải nộp trong toàn bộ vòng đời tài sản, mà chủ yếu dịch chuyển thời điểm nộp thuế.
Theo đó, cho phép khấu hao nhanh tối đa 2 lần mức khấu hao theo phương pháp thông thường đối với máy móc tự động hóa; robot công nghiệp, thiết bị AI, hệ thống điều khiển sản xuất thông minh; thiết bị tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải; doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư lần đầu…
Điều kiện là tài sản phải phục vụ trực tiếp sản xuất, kinh doanh; có hồ sơ chứng minh công nghệ và thuộc danh mục được cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc đáp ứng tiêu chí kỹ thuật.
Thứ ba, thuế TNDN ưu đãi cho doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bà Hải khẳng định, đây là một trong những chính sách nên được ưu tiên cao nhất. Điểm quan trọng để thực thi chính sách này là cần phải thiết lập tiêu chí “doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu” là gì.
Đề xuất có thể dựa trên các tiêu chí như: cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho tập đoàn đa quốc gia; đạt tiêu chuẩn quốc tế; đầu tư R&D; có hệ thống quản trị chất lượng…
Một số tiêu chí mục tiêu cần thiết kế có tính kỹ thuật nhằm tránh vi phạm các cam kết quốc tế như: tỷ trọng xuất khẩu một số mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tỷ lệ nội địa hóa…
Từ đó, thu nhập tăng thêm từ hoạt động chuỗi cung ứng đủ điều kiện được áp dụng thuế suất ưu đãi (10%, 12%) trong một thời hạn nhất định hoặc được giảm thuế theo tỷ lệ nhất định trên doanh thu tăng thêm.
Thứ tư, tăng ưu đãi cho công nghiệp hỗ trợ. Bà Hải kiến nghị lựa chọn một số ngành, lĩnh vực như: điện tử; bán dẫn; ô tô; cơ khí chính xác; dệt may; da giày; thiết bị y tế; năng lượng; logistics… để áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc giảm thuế nếu doanh nghiệp Việt đáp ứng các điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật, tỷ lệ nội địa hóa, năng lực cung ứng cho doanh nghiệp FDI/xuất khẩu thay vì chỉ căn cứ sản phẩm, lĩnh vực ngành nghề.
Tuy nhiên, việc thiết kế chính sách cần có tính kỹ thuật nhằm tránh vi phạm các cam kết quốc tế như: tỷ lệ nội địa hóa, năng lực cung ứng cho doanh nghiệp FDI và xuất khẩu…
Thứ năm, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận đơn hàng dịch chuyển vào Việt Nam theo hướng khấu hao nhanh tài sản đầu tư; tax credit 10% giá trị đầu tư máy móc đủ điều kiện; miễn thuế nhập khẩu máy móc thuộc diện ưu đãi; ưu đãi TNDN đối với phần thu nhập tăng thêm từ hợp đồng/hoạt động mới trong thời hạn 3–5 năm.
Điều kiện: đơn hàng mới; khách hàng mới hoặc thị trường mới; tăng công suất; tăng lao động kỹ thuật; tăng doanh thu xuất khẩu hoặc doanh thu cung ứng cho FDI.
Thứ sáu, cải cách hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp xuất khẩu. Thiết kế cơ chế hoàn thuế tự động theo mức độ tuân thủ và rủi ro đối với doanh nghiệp xuất khẩu nếu lịch sử tuân thủ tốt; không có nợ thuế; hóa đơn đầu vào minh bạch…
Về lâu dài, cần nghiên cứu chế độ không thu/không hoàn đối với máy móc, thiết bị của dự án đầu tư trọng điểm, dự án đầu tư để xuất khẩu; mở rộng điều kiện áp dụng doanh nghiệp chế xuất (không thu/không hoàn) đối với các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu trọng điểm và doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng điều kiện ưu tiên nhằm giải phóng nguồn vốn cho doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào sản xuất, giảm thủ tục và thời gian cho cả doanh nghiệp và cơ quan nhà nước (thuế, hải quan).
Thứ bảy, miễn/giảm thuế nhập khẩu đối với công nghệ và nguyên liệu chưa sản xuất được trong nước. Mở rộng miễn thuế nhập khẩu tương tự như cơ chế hiện hành với máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định của dự án ưu đãi đầu tư cho một số nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được như: máy móc tự động hóa; robot; thiết bị bán dẫn; thiết bị kiểm thử; khuôn mẫu chính xác; thiết bị đo lường; phần cứng AI; thiết bị sản xuất xanh; máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu với điều kiện nhập khẩu để tạo tài sản cố định và trực tiếp phục vụ dự án sản xuất hoặc phục vụ xuất khẩu.
Thứ tám, khấu trừ thuế cho đào tạo nhân lực kỹ thuật cao bằng cách cho phép doanh nghiệp được khấu trừ thuế theo tỷ lệ nhất định đối với các chi phí đào tạo kỹ thuật; vận hành máy móc; tiêu chuẩn quốc tế; quản trị chuỗi cung ứng; R&D; chuyển đổi số; xanh/ESG gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
“Các chính sách đề xuất nêu trên cần thiết kế để doanh nghiệp dễ thực thi và cơ quan nhà nước dễ quản lý; đồng thời, các cơ chế ưu đãi không bị vi phạm các cam kết quốc tế, đảm bảo tính trung lập của chính sách thuế”, bà Lê Thị Duyên Hải nhấn mạnh.
