Doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường ASEAN cần lưu ý gì
ASEAN là thị trường có vị trí địa lý gần và nhiều nét tương đồng về văn hóa với Việt Nam. Tuy nhiên, nếu không hiểu rõ thị hiếu người tiêu dùng và văn hóa kinh doanh của từng quốc gia, doanh nghiệp sẽ khó xây dựng chỗ đứng và phát triển bền vững tại khu vực.
Là một thành viên quan trọng của ASEAN, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường với quy mô 700 triệu người của khối, thúc đẩy thương mại hàng hóa, phát triển dịch vụ, kết nối đầu tư và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất khu vực.
Tại hội thảo “Tư vấn quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh xuất khẩu với thị trường ASEAN” do Cục Xúc tiến thương mại tổ chức chiều 27/10, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm hỗ trợ Xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, ASEAN là thị trường có khoảng cách địa lý tương đối gần, giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa xuất khẩu. Đồng thời các tuyến logistics và mạng lưới phân phối khu vực ngày càng phát triển; các cam kết hội nhập kinh tế khu vực cũng đang tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp cận thị trường.
Nhiều sản phẩm Việt Nam hiện có tiềm năng xuất khẩu sang ASEAN như nông sản, thực phẩm chế biến, thủy sản, đồ uống, hàng tiêu dùng, dệt may, vật liệu xây dựng, các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, ASEAN còn có thể là bước đi phù hợp để tích lũy kinh nghiệm xuất khẩu, hoàn thiện năng lực quản trị và từng bước mở rộng sang các thị trường xa hơn.
Dù vậy, bà Thủy cũng nhấn mạnh, gần về địa lý không có nghĩa gần về thể chế, tương đồng về văn hóa không có nghĩa giống nhau về cách thức kinh doanh và cùng tham gia một cộng đồng kinh tế không có nghĩa mọi thị trường đều vận hành theo một bộ quy tắc giống nhau.
Chỉ ra ba khía cạnh cần lưu ý, theo bà Thủy, khu vực có nhiều nét tương đồng nhưng chính sự tương đồng khiến doanh nghiệp chủ quan trong đánh giá tiềm năng xuất khẩu sang thị trường 700 triệu dân này. Sự phát triển của thương mại khu vực mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng làm cho các rủi ro về kinh doanh trở nên đa dạng hơn.

Sự kiện do Cục Xúc tiến thương mại tổ chức, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp hiểu hơn về thị trường ASEAN. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Bên cạnh đó, ASEAN là cộng đồng kinh tế gắn kết nhưng không phải một thị trường đồng nhất, doanh nghiệp không thể áp dụng một quy trình kinh doanh với mọi quốc gia trong khối.
Nói rõ hơn về tính đa dạng này, bà Thủy cho biết, đơn cử với Malaysia, quốc gia này có hệ thống công nghiệp và thương mại phát triển, đồng thời có những yêu cầu riêng về tiêu chuẩn, chứng nhận và tiếp cận thị trường. Singapore có vai trò nổi bật trong thương mại quốc tế, dịch vụ tài chính và logistics trong khu vực.
Indonesia sở hữu quy mô dân số và thị trường tiêu dùng lớn nhưng doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định nhập khẩu, thủ tục cấp phép và điều kiện phân phối.
Philippines là nước nhập khẩu nhiều hàng hóa nhưng cũng là quốc gia có những yêu cầu riêng về logistic, thanh toán và tổ chức mạng lưới phân phối.
Trong khi đó, các thị trường như Lào, Campuchia và Myanmar cũng có các đặc điểm riêng về quy mô thị trường, hạ tầng, cơ chế quản lý, phương thức giao dịch và mức độ ổn định của môi trường kinh doanh.
“ASEAN là một khu vực đa dạng về trình độ phát triển kinh tế, quy mô thị trường, cơ cấu ngành hàng, hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh, năng lực, logistics và hành vi tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp sẽ cần lưu ý về các rủi ro như đối tác thương mại; thanh toán, tín dụng và tỷ giá; hợp đồng; tiêu chuẩn, quy định nhập khẩu; logistics, cung ứng và giao nhận hàng hóa; văn hóa kinh doanh, thông tin thị trường và năng lực cạnh tranh.
Những nhóm rủi ro nêu trên không tồn tại riêng lẻ. Một sai sót trong thẩm định đối tác có thể dẫn đến lựa chọn sai phương thức thanh toán. Một điều khoản giao hàng thiếu chặt chẽ có thể làm phát sinh tranh chấp về chi phí logistic. Một thay đổi về quy định nhập khẩu có thể khiến hàng hóa bị ách tắc kéo theo chậm thanh toán và thiếu một dòng tiền,” bà Nguyễn Thị Thu Thủy chia sẻ.
Doanh nghiệp sẽ cần hiểu nhiều hơn về ASEAN
Liên quan đến chứng nhận C/O (chứng nhận xuất xứ hàng hóa) trong thị trường ASEAN, ông Hoàng Đức Minh, đại diện Phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, doanh nghiệp cần tránh việc sử dụng không đúng mẫu, khai báo thiếu chính xác, hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không đáp ứng yêu cầu đối với hóa đơn của bên thứ ba và chứng từ cấp sau. Bởi theo ông điều này có thể dẫn đến vướng mắc khi thông quan hoặc xác minh xuất xứ.
Mặt khác, ngay cả khi đã nhập khẩu vào nước bạn trong ASEAN, doanh nghiệp sẽ vẫn cần đảm bảo chứng minh được hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ với cơ quan hải quan. Trong trường hợp không chứng minh được, doanh nghiệp có thể đối mặt với việc mất ưu đãi thuế quan, nguy cơ phát sinh khoản thuế chênh lệch.

Tham tán thương mại Việt Nam tại Indonesia Phạm Thế Cường chia sẻ vấn đề cần lưu ý khi xuất khẩu hàng hóa sang ASEAN theo hình thức trực tuyến. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Tại thị trường cụ thể Indonesia, Tham tán thương mại Việt Nam tại Indonesia Phạm Thế Cường cho biết, quốc gia này có dân số lớn thứ 4 thế giới trong đó đa số theo Hồi giáo, vì vậy thị trường này rất coi trọng tiêu chí Halal.
Theo ông Cường, tiêu chí Halal không chỉ liên quan đến thực phẩm mà còn bao gồm cả lĩnh vực mỹ phẩm, dược phẩm, du lịch và nhiều hoạt động tiêu dùng khác. Vì vậy, ngay từ những bước đầu tiếp cận thị trường, doanh nghiệp cần minh bạch thông tin sản phẩm và chú trọng về yêu cầu chứng nhận Halal cũng như xây dựng thương hiệu uy tín.
Đơn cử, nếu doanh nghiệp sử dụng hình ảnh, biểu tượng, câu nói hoặc nhân vật linh thiêng một cách hời hợt, sai lệch hoặc mang tính đùa cợt trong quảng cáo, điều này sẽ gây mất thiện cảm rất lớn trong cộng đồng người tiêu dùng Hồi giáo. Doanh nghiệp cũng cần nắm rõ các vấn đề kiêng kỵ, không sử dụng thành phẩm cấm trong sản phẩm Halal như thịt lợn, cồn/rượu.
“Những sai sót liên quan đến văn hóa - tâm linh rất khó xoa dịu, dễ tạo tiếng xấu lâu dài cho hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường Indonesia, từ đó dẫn đến bỏ lỡ cơ hội phát triển tại thị trường,” ông Phạm Thế Cường nhấn mạnh.
Liên quan đến các quy định, Indonesia hiện áp dụng các quy định bắt buộc về Tiêu chuẩn Quốc gia Indonesia (SNI) đối với sản phẩm có ảnh hưởng đến an toàn công cộng, sức khỏe, bảo vệ môi trường hoặc lợi ích kinh tế quốc gia. Sản phẩm nhập khẩu bắt buộc phải có chứng nhận SNI, các mặt hàng không tuân thủ sẽ bị cơ quan chức năng tịch thu và tiêu hủy công khai.
Nói thêm về những sai lầm phổ biến mà doanh nghiệp thường gặp phải khi thâm nhập vào thị trường Đông Nam Á này. Cụ thể, doanh nghiệp nhẫm lẫn vai trò pháp lý giữa nhà nhập khẩu và nhà phân phối; chọn nhà phân phối trước khi xác định chiến lược thâm nhập thị trường.
Doanh nghiệp chậm đăng ký nhãn hiệu; đăng ký xin cấp giấy chứng nhận từ Cơ quan Quản lý Dược phẩm và thực phẩm Indonesia (BPOM) khi chưa xác định chiến lược sở hữu pháp lý dài hạn. Doanh nghiệp ký hợp đồng phân phối độc quyền mà chưa đánh giá biến động kinh doanh trong tương lai; chỉ căn cứ vào chi phí ngắn hạn, bỏ qua mục tiêu dài hạn.
Ông Cường cũng cho biết, để xây dựng lòng tin và phát triển mối quan hệ với đối tác Indonesia, doanh nghiệp cần chú trọng vào 4 nguyên tắc trong đàm phán.
Trước tiên là “quan hệ trước, công việc sau”. Doanh nghiệp nên dành thời gian trò chuyện về gia đình, du lịch, ẩm thực hoặc sở thích để tạo sự gần gũi với đối tác.
Thứ hai là giữ gìn sự hòa hợp. Doanh nghiệp tránh gây áp lực quá mức, đối đầu hoặc làm đối tác mất thể diện.
Thứ ba là tôn trọng thứ bậc. Doanh nghiệp nên sử dụng chức danh phù hợp, chẳng hạn Bapak (ông) và Ibu (bà) khi giao tiếp với đối tác.
Thứ tư là kiên nhẫn trong đàm phán. Doanh nghiệp không nên thúc ép đối tác ra quyết định nhanh; sự thân thiện chưa đồng nghĩa với việc hợp đồng đã được chấp thuận.
“Cần xây dựng chiến lược thị trường, xác định rõ vai trò của từng đối tác và bảo vệ quyền sở hữu thương hiệu ngay từ đầu. Các sai lầm có thể khiến doanh nghiệp mất quyền kiểm soát hoặc phát sinh chi phí xử lý lớn sau khi hoạt động thương mại đã bắt đầu tại thị trường,” ông Phạm Thế Cường nhận định.


