Doanh thu Viettel tăng 15,6%, phát thải chỉ nhích 3,5%

Báo cáo phát triển bền vững 2025 cho thấy Viettel vẫn mở rộng quy mô nhưng khí thải tăng chậm, doanh thu tăng 15,6% trong khi khí nhà kính chỉ tăng 3,5%, điện lưới giảm 3%.

Theo Báo cáo phát triển bền vững 2025, tổng phát thải khí nhà kính của Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) năm 2025 đạt 3.563.627 tấn CO₂ tương đương, tăng 3,5% so với năm 2024, trong khi doanh thu hợp nhất tăng 15,6% lên 223 nghìn tỷ đồng.

Bảng kiểm kê phát thải khí nhà kính Viettel theo phạm vi và khu vực trong nước quốc tế năm 2025. Ảnh chụp báo cáo

Bảng kiểm kê phát thải khí nhà kính Viettel theo phạm vi và khu vực trong nước quốc tế năm 2025. Ảnh chụp báo cáo

Phát thải Viettel không chỉ đến từ trạm sóng

Trong năm 2025, Viettel vận hành 30.000 trạm 5G, vận hành 14 trung tâm dữ liệu và tăng cường đầu tư vào trí tuệ nhân tạo, áp lực về mức tiêu thụ điện và phát thải khí nhà kính cũng trở thành vấn đề cần theo dõi.

Chênh lệch giữa hai mức tăng cho thấy Viettel đang từng bước tách tăng trưởng kinh doanh khỏi mức tăng phát thải. Doanh thu tăng 15,6% trong khi tổng phát thải khí nhà kính chỉ tăng 3,5%, cho thấy lượng phát thải phát sinh thêm thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu. Điều này cho thấy Viettel có thể mở rộng hoạt động kinh doanh và phục vụ nhiều khách hàng hơn mà mức phát thải không tăng tương ứng.

Bảng so sánh năng lượng và phát thải khí nhà kính Viettel năm 2024 và 2025 trong báo cáo phát triển bền vững. Ảnh chụp báo cáo

Bảng so sánh năng lượng và phát thải khí nhà kính Viettel năm 2024 và 2025 trong báo cáo phát triển bền vững. Ảnh chụp báo cáo

Cơ cấu phát thải của Viettel có điểm khác biệt khi tập đoàn còn phát sinh khí thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp bên cạnh lĩnh vực viễn thông. Nhà máy Xi măng Cẩm Phả chiếm khoảng 51,1 % tổng phát thải trực tiếp của toàn tập đoàn, tương đương 979.361 tấn CO₂, do quá trình nung clinker vừa sử dụng than làm nhiên liệu vừa tạo khí thải từ phản ứng hóa học. Điều này khiến bài toán giảm phát thải của Viettel phức tạp hơn một doanh nghiệp viễn thông khác, khi tập đoàn phải đồng thời kiểm soát phát thải từ hạ tầng số và hoạt động công nghiệp nặng.

Ba chỉ số trong báo cáo giải thích vì sao phát thải của Viettel tăng chậm hơn doanh thu:

Thứ nhất, điện lưới tiêu thụ tại Việt Nam giảm 3%, từ 1.863.752 MWh xuống còn 1.807.092 MWh, dù mạng 5G tiếp tục mở rộng. Kết quả này đến từ nhiều giải pháp tiết kiệm điện được triển khai đồng bộ, với tổng mức tiết kiệm ước tính khoảng 104.311 MWh mỗi năm. Trong đó, giải pháp có tác động lớn nhất là tắt sóng trạm BTS trong giờ thấp điểm, áp dụng cho mạng 4G từ tháng 1 và mạng 5G từ tháng 4, giúp tiết kiệm khoảng 36.216 MWh mỗi năm.

Thứ hai, sản lượng điện mặt trời tự sản xuất đạt 50.404 MWh, tăng 24,8% so với mức 40.388 MWh của năm 2024. Nhờ đó, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ điện tăng từ 1,7% lên khoảng 2%. Đáng chú ý, phần lớn điện mặt trời của Viettel không đến từ trong nước mà từ các thị trường quốc tế. Các đơn vị như Movitel, Halotel, Lumitel, Mytel và Unitel tại châu Phi và châu Á đóng góp 48.651 MWh, chiếm 96,5% tổng sản lượng, do nhiều khu vực chưa có điện lưới ổn định nên pin mặt trời trở thành lựa chọn vừa tiết kiệm chi phí vừa ổn định cho các trạm phát sóng.

Thứ ba, tổng năng lượng tiêu thụ toàn tập đoàn đạt 5.339.777 MWh, tăng 3,8%. Con số này thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu 15,6% và tốc độ tăng lưu lượng dữ liệu 5G 13,8%. Cường độ năng lượng trên mỗi đơn vị dữ liệu đạt 26,23 MWh mỗi petabyte, nằm trong ngưỡng tham chiếu của bộ chỉ số GSMA ESG Benchmarking 2025 dao động từ 27 đến 172 MWh mỗi petabyte.

Viettel lần đầu đo phát thải theo chuẩn quốc tế

Năm 2025 là năm đầu tiên Viettel áp dụng đồng bộ bộ chỉ tiêu GSMA ESG Metrics for Mobile trên toàn tập đoàn, với dữ liệu được thu thập từ 20 trong tổng số 28 đơn vị trong nước và 9 thị trường nước ngoài.

Tổng phát thải của Viettel gồm 1.916.501 tấn CO₂ tương đương từ nguồn phát thải trực tiếp, chiếm khoảng 53,8%, và 1.647.126 tấn từ nguồn phát thải gián tiếp do tiêu thụ điện, chiếm khoảng 46,2%. Xét theo khu vực, Việt Nam chiếm phần lớn lượng phát thải với 2.930.709 tấn, tương đương 82,2%, trong khi các thị trường quốc tế phát sinh 632.918 tấn, chiếm khoảng 17,8%.

Bảng năng lượng tiêu thụ Viettel 2025 gồm điện lưới và điện mặt trời trong nước và nước ngoài. Ảnh chụp báo cáo

Bảng năng lượng tiêu thụ Viettel 2025 gồm điện lưới và điện mặt trời trong nước và nước ngoài. Ảnh chụp báo cáo

Theo báo cáo, việc thống nhất cách đo lường giúp Viettel đối chiếu kết quả với các nhà mạng quốc tế thay vì tự đánh giá theo tiêu chí riêng. Tập đoàn Viettel cũng đặt mục tiêu chuyển trọng tâm từ theo dõi số liệu sang quản trị, hướng tới việc mỗi cam kết đều gắn với một chỉ tiêu cụ thể và có thể đối chiếu qua từng năm

Báo cáo cho biết, trong năm 2025, Viettel phân phối hơn 3,74 triệu thiết bị đầu cuối CPE gồm modem, đầu thu truyền hình và camera, đồng thời thu hồi hơn 2 triệu thiết bị, tương đương tỷ lệ 53,67%. Trong số thiết bị thu hồi, 584.787 chiếc được sửa chữa, tái sử dụng hoặc đưa vào tái chế có kiểm soát, chiếm 29,07%, trong đó 263.278 thiết bị tân trang được phân phối lại cho khách hàng.

Với thiết bị mạng lưới, Viettel lắp mới 169.211 thiết bị để mở rộng 5G và cải tạo 4G, đồng thời thu hồi 33.223 thiết bị cũ, trong đó 5.036 thiết bị được tái sử dụng hoặc bán lại. Có 2.362 thiết bị 3G được bán cho thị trường thứ cấp thay vì thải bỏ, 1.299 thiết bị GPON tái triển khai ở vị trí mới.

Bảng quản lý chất thải Viettel năm 2025 tổng 7.946 tấn theo hướng kinh tế tuần hoàn

Bảng quản lý chất thải Viettel năm 2025 tổng 7.946 tấn theo hướng kinh tế tuần hoàn

Tổng lượng chất thải phát sinh năm 2025 đạt 7.946,3 tấn, trong đó chất thải nguy hại chiếm 3,1%. Rác thải điện tử ở mức 68 tấn, pin và ắc quy hỏng 39,6 tấn, là hai nhóm cần ưu tiên kiểm soát trong bối cảnh liên tục nâng cấp hạ tầng.

Ở mảng công nghiệp nặng, Xi măng Cẩm Phả triển khai đồng xử lý nhiên liệu thay thế trong lò nung clinker. Nhà máy sử dụng 15.323,5 tấn rác thải công nghiệp, chủ yếu là vải vụn từ ngành may mặc, để thay một phần than đá. Với nhiệt trị tham chiếu khoảng 16 GJ mỗi tấn, lượng nhiên liệu thay thế này tương đương khoảng 9.760 tấn than, chiếm khoảng 3,5% tổng năng lượng lò nung trong năm.

Cách làm này giúp Viettel đồng thời giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và xử lý lượng chất thải công nghiệp khó tái chế thông qua thu hồi năng lượng có kiểm soát, theo hướng tận dụng chất thải của ngành này làm nhiên liệu cho ngành khác.

Báo cáo đặt ra các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2026-2027. Trong năm 2026, Viettel dự kiến tham gia chương trình GSMA ESG Benchmarking và mở rộng kiểm kê phát thải sang phạm vi 03, bao gồm hoạt động mua sắm hàng hóa, dịch vụ và xử lý thiết bị sau khi hết vòng đời sử dụng.

Với năng lượng tái tạo, mục tiêu đến giai đoạn 2028 đến 2029 là nâng tỷ trọng lên khoảng 3 đến 5% tổng điện tiêu thụ, so với mức 2% hiện tại. Với trung tâm dữ liệu, tập đoàn hướng tới hạ chỉ số hiệu quả sử dụng điện từ mức 2,0 xuống dưới 1,8 vào năm 2026 thông qua tối ưu hệ thống làm mát và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong vận hành.

Các số liệu cho thấy Viettel đang lựa chọn cách tiếp cận thận trọng khi chưa đưa ra cam kết Net Zero với mốc thời gian cụ thể, thay vào đó tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu trước khi xác lập mục tiêu giảm phát thải có cơ sở. Cách làm này phù hợp với đặc thù của Viettel vừa mở rộng hạ tầng số vừa duy trì hoạt động sản xuất công nghiệp, trong đó các cam kết về môi trường cần được cân đối với yêu cầu tăng trưởng và điều kiện hạ tầng, pháp lý vẫn đang tiếp tục hoàn thiện.

Đào Công

Nguồn Điện tử & Ứng dụng: https://dientuungdung.vn/doanh-thu-viettel-tang-156-phat-thai-chi-nhich-35-17436.html