Đọc lại Báo Tiếng Dân: 'Quốc dân cần phải có những gì?'

Gần 100 năm trước (1927), Tờ báo Tiếng Dân do nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên ra đời. Những quan điểm của cụ và của tờ báo luôn xoay quanh một chữ “Dân”, và vẫn vẹn nguyên giá trị đối với việc xây dựng chuẩn mực con người thời đại hôm nay.

Tiếng Dân - Tiếng nói của dân, tiếng nói vì dân

Cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với hai chí sĩ Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp hợp thành “Bộ ba xứ Quảng” trong phong trào Duy Tân những năm 1905-1908. Khi phong trào chống sưu thuế ở Trung kỳ bùng nổ vào năm 1908, chính quyền thực dân quy trách nhiệm cho các sĩ phu Duy Tân.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt. Sau 13 năm bị tù đày nơi Côn Đảo trở về, cụ tiếp tục con đường “chánh trị cách mạng công khai”, trong đó có việc ra Tờ báo Tiếng Dân, số báo đầu tiên ra ngày 10-8-1927.

 Hình ảnh và các kỷ vật về chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng trong khuôn viên nhà lưu niệm tại xã Thạnh Bình (TP Đà Nẵng). Ảnh: NGUYỄN CƯỜNG

Hình ảnh và các kỷ vật về chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng trong khuôn viên nhà lưu niệm tại xã Thạnh Bình (TP Đà Nẵng). Ảnh: NGUYỄN CƯỜNG

Qua những bài đăng trên Tiếng Dân, cụ Huỳnh đã làm tròn trách nhiệm của một người yêu nước thương nòi, thực hiện “cái nghĩa vụ của học giả đối với đồng bào” là luôn “kê đơn cắt thuốc” (thuốc đắng dã tật) để thức tỉnh tinh thần yêu nước, đưa đồng bào ra khỏi cảnh tượng: “nhân tâm thì sống say chết ngủ, dở tỉnh dở mê”, đến mức “quốc túy tiêu mòn, lòng người xào xạc” (Tiếng Dân, 13-8-1927).

Đúng với tên tờ báo, Tiếng Dân nói lên tiếng nói của dân và vì dân nên bài viết của cụ cũng như những bài cụ duyệt đăng lên mặt báo đều chủ yếu tập trung vào phạm trù “Dân”.

Ngược lại với tư tưởng phong kiến đặt dân trong quan hệ với vua, cụ Huỳnh đặt dân trong quan hệ với nước, ở vị thế quốc dân, ở hàng tôn quý. Trong bài “Quốc dân cần phải có những gì?” đăng liên tiếp trên 4 số báo (từ ngày 24-8 đến 3-9-1927), cụ viết: “Hợp dân thành nước, không dân thì nước dựa vào đâu, song dân mà không biết đến nước, thì sao gọi là quốc dân”, và một khi “dân mà không biết đến nước thì không làm gốc cho nước được, đã không làm gốc thì quý ở vào đâu?”.

Đau đáu hai chữ “quốc dân”

Điều mà cụ Huỳnh quan tâm hàng đầu, đau đáu nhất là trình độ, tư cách quốc dân. Cụ chỉ ra những cái xấu, cái tệ thời bấy giờ làm ảnh hưởng đến “quốc dân”.

Đó là thói học để làm quan: “công chiến thương chiến giục tới bên chưn, mà người đi học trong nước vẫn ôm lấy cái hy vọng “làm quan” làm chủ chốt”; là thói làm quan ăn lót: “làm quan mà ăn của dân, cho là một cái quyền lợi tự nhiên mà mình được hưởng, tập dữ tánh thành, không ai cho là điều quái lạ hổ thẹn nữa”; là thói a dua người quyền quý: “bất kỳ việc gì, người ra thế nào, đã là quyền quý thì cứ nhắm mắt tán dương”; là thói trọng xác thịt: “Vì trọng xác thịt nên ngoài sự ăn sung mặc sướng, ở yên ra, gần như không có tư tưởng gì nữa” (Tiếng Dân, 15-5-1929).

Chỉ ra căn bệnh, cụ Huỳnh cũng đồng thời kê đơn cắt thuốc trị bệnh. Theo cụ, trước hết mỗi người dân phải tự trau dồi tư cách quốc dân. Nhưng tư cách quốc dân không phải tự phụ mà có, không phải “ngồi trông mà được, nói trống mà thành”.

Muốn trau dồi thì mỗi người phải lo trau dồi nhân cách: “Nói cho rõ ra thì những đều gì trau dồi đức tánh, đào luyện tinh thần, làm cho nhân cách tiến lên thì gắng sức mà làm (sự nầy không ai ngăn mình, chỉ mình tự ngăn lấy); còn những đều giả dối gian tham, hại nhân ích kỷ, làm cho nhân cách đê hèn thì nhứt thiết trừ khử. Có được như thế thì cá nhân mới có tư cách: có tư cách cá nhân rồi sau mới nói đến đoàn thể xã hội nhân quần” (Tiếng Dân, ngày 12-10-1929).

Muốn xứng đáng với tư cách quốc dân thì chí ít phải có 3 điều. Cần phải có thường thức, ở trình độ trung bình là những tri thức căn bản, từ biết chữ ở trình độ tự viết được những giấy tờ thiết dụng hàng ngày, cho đến những hiểu biết đại lược về những vấn đề quan hệ đến xã hội, đất nước và trên thế giới.

Cần phải có chuyên nghiệp, tức là mỗi người ai cũng có một nghề nghiệp riêng, trước để nuôi lấy thân mình, để khẳng định cái phẩm chất cá nhân mình, sau là lo cho lợi ích chung để trọn nghĩa vụ đối với xã hội.

Đã chọn nghề nào thì phải chuyên tâm nghề ấy, còn một khi đã không nghề nghiệp thì sinh kế không xong mà đối với đời lại là con sâu con mọt ăn hại.

Cần phải có đức tin, bởi người thiếu đức tin thì việc gì cũng hỏng, mà cũng không thể hợp quần đoàn thể. Từ tín tâm, cụ nhắc nhở đến quyết tâm, đến tinh thần trách nhiệm, tự lực tự cường. Người có tư cách quốc dân là người có ý thức trách nhiệm với nước, đặt mình trong quan hệ với nước.

Đó phải là người có ý thức chánh trị, lưu tâm đến chánh trị nước nhà, bởi: “Chánh trị là sự sanh tồn của nước. Bỏ chánh trị của nước chẳng phải bỏ sự sanh tồn của mình sao?” (Tiếng Dân, 27-10-1928).

Người có tư cách quốc dân thì phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường: “Ngày nay mà anh em bà con ta có muốn làm một việc lợi ích cho nòi giống, thì xin trông vào nơi mình trước, ai ai cũng trông vào nơi mình thì không ai bị lừa, không ai bị ngăn, hợp muôn vạn người lại thành một cái đoàn thể để chung lo việc nước nhà thì hy vọng của mình mới mong thực hiện được” (Tiếng Dân, 12-9-1928). Những điều mà cụ Huỳnh đã chỉ ra không chỉ có ý nghĩa đối với xây dựng tâm lý quốc dân đương thời.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng xác định: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng tiếp tục với định hướng “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” nhằm bồi dưỡng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đọc lại bài của cụ Huỳnh - “Quốc dân cần phải có những gì?”, chúng ta vẫn bắt gặp được từ cụ những gợi mở cho xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 -1947), tên khai sinh là Huỳnh Hanh, sinh tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, phủ Hà Đông (nay là xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng). Cụ đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương (1900) và đỗ Tiến sĩ năm 1904.

Cụ cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng phong trào Duy Tân. Năm 1908, cụ bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo 13 năm. Khi được trả tự do, cụ sáng lập Báo Tiếng Dân tại Huế.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ tham gia gánh vác việc nước, giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ (từ tháng 3-1946). Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Pháp (từ tháng 5 đến tháng 10-1946), cụ được giao làm Quyền Chủ tịch nước.

Ngày 21-4-1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng trút hơi thở cuối cùng tại Quảng Ngãi. Mộ của cụ nay nằm trên núi Thiên Ấn, Quảng Ngãi. Ghi nhận công lao to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với dân tộc, Đảng và Nhà nước đã truy tặng cụ Huân chương Sao Vàng.

NGUYÊN KHÔI

PGS-TS Ngô Văn Minh, Học viện Chính trị khu vực III

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/doc-lai-bao-tieng-dan-quoc-dan-can-phai-co-nhung-gi-post873933.html