Đọc sách và suy ngẫm: Một đời làm thơ, một đời đi qua chính mình – Quang Hoài 'duyên nợ' với thi ca

Ở tuổi 81, từng vượt qua 'ải tử thần' hạn 'thất cửu' (79), khi nhiều người đã chọn sự tĩnh tại như một cách 'lui về', Nhà thơ Quang Hoài vẫn lặng lẽ đi xe máy, mang theo tập thơ mới xuất bản đến tư gia trao tận tay tặng tôi. Hành động giản dị ấy, diễn ra vào chiều 10/4/2026, không chỉ là một cuộc thăm hỏi, mà còn là một cử chỉ văn hóa đẹp: Trao đi 'đứa con tinh thần' được chưng cất từ hơn nửa thế kỷ cầm bút.

Đó là tập thơ “Mỗi ngày tôi lại là tôi” do Ban Quản lý Chương trình "Nghiên cứu, tổng hợp các tác phẩm văn học nghệ thuật vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, tiến tới kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Nước CHXHCN Việt Nam và 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư" ấn hành, được NXB Hội Nhà văn đầu tư kinh phí xuất bản cuối năm 2025, giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài nước.

Lưu bút đề tặng sách cho Vũ Xuân Bân của Nhà thơ Quang Hoài.

Lưu bút đề tặng sách cho Vũ Xuân Bân của Nhà thơ Quang Hoài.

Hành trình thi ca như một “ký ức sống”

Tập thơ này dày hơn 500 trang, khổ sách 14,5 cm x 20,5 cm, bìa cứng, gồm gần 350 bài thơ tuyển chọn từ 14 tập thơ của Quang Hoài đã xuất bản, ra mắt vào dịp sinh nhật lần thứ 81 của ông (18.4.1945 - 18.4.2026) thật ý nghĩa, vì thế không đơn thuần là một cuốn sách – nó là một “di sản tâm hồn”, ghi lại hành trình 51 năm duyên nợ với thi ca của một “Người lính Cụ Hồ” với quân hàm Đại tá - Thi sĩ.

Nhà thơ Quang Hoài.

Nhà thơ Quang Hoài.

Từ bài thơ đầu tiên “Lá thư gửi anh” đăng trên Báo Văn Nghệ năm 1969 đến nay, Quang Hoài đã đi qua kháng chiến chống Mỹ cứu, bảo vệ chủ quyền biên giới, đời sống hậu chiến và những biến thiên của đương đại. Thơ ông vì thế không chỉ là tiếng nói cá nhân mà còn là một lớp trầm tích văn hóa – nơi ký ức, trải nghiệm và suy tư giao thoa, kết tinh thành ngôn ngữ thơ chiêm nghiệm, giàu triết luận sâu sắc.

Điểm đáng chú ý nhất ở tuyển tập này chính là tính chất “tổng kết đời thơ”, nhưng không khép kín, không hoài niệm thuần túy. Trái lại, nó vận động như một dòng chảy sống động của ký ức. Những bài thơ viết về Trường Sơn, về đồng đội, về những năm tháng tuổi trẻ không chỉ là hồi ức cá nhân mà còn là ký ức tập thể của một thế hệ. Khi ông viết: “Tôi đến Trường Sơn/ Lại nhận được những dấu chân bạn bè đi vào…” (tr27), đó không chỉ là một hình ảnh, mà là một biểu tượng văn hóa của thời chiến – nơi con người sống, chiến đấu và yêu thương trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Ở một bình diện khác, thơ Quang Hoài lại mang đậm chất dân gian, đặc biệt qua thể lục bát. Những bài như “Lục bát buồn” (tr69), “Đò anh đợi dưới trời sao” (tr82), hay “Lục bát con đò” (tr103) cho thấy một sự thuần thục hiếm có. Lục bát trong thơ ông không chỉ là hình thức, mà là một “ký ức văn hóa” được tái sinh – nơi ca dao, tục ngữ được “nâng cấp” bằng trải nghiệm hiện đại. Câu thơ “Con sông bên lở, bên bồi/ Đò nắm bên lở tôi ngồi khóc ai ?” (Lục bát con đò) gợi nhắc đến quy luật đời sống, nhưng khi đặt trong cấu trúc cảm xúc của tác giả, nó trở thành một triết lý về mất – còn, về lựa chọn và số phận.

Chính sự kết hợp giữa chất dân gian và tư duy hiện đại đã tạo nên một giọng điệu riêng. Như nhận xét của nhà thơ Bằng Việt, thơ Quang Hoài dung hòa những đối cực: Trữ tình và hài hước, bộc trực và triết lý, hồn nhiên mà sâu xa. Điều này phản ánh một đặc điểm quan trọng của văn hóa Việt: Khả năng “dung chứa” và “chuyển hóa” – biến những mâu thuẫn thành hài hòa.

Không chỉ vậy, tuyển tập xuất bản lần này còn mang ý nghĩa như một “tài liệu văn hóa sống”. Nó ghi lại không chỉ đời sống cá nhân mà còn là sự vận động của ngôn ngữ thơ qua nhiều thời kỳ. Từ giọng điệu chiến tranh đến những suy tư hậu hiện đại, từ cái “ta” cộng đồng đến cái “tôi” cá nhân, hành trình thơ Quang Hoài chính là một trong những lát cắt của tiến trình văn học Việt Nam đương đại.

Từ hoài nghi hiện sinh đến hành trình tự thanh tẩy

Nếu tầng bề mặt của thơ Quang Hoài là ký ức và cảm xúc, thì tầng sâu lại là một thế giới triết luận mang màu sắc hiện sinh. Ở đó, nhà thơ không né tránh những câu hỏi gai góc về bản thể, về sự tồn tại và ý nghĩa của đời sống.

Một trong những ám ảnh lớn trong thơ ông là cảm thức về sự “giả trá” và “dở dang” của thực tại. Những từ như “dở”, “vờ”, “giả” xuất hiện không chỉ để miêu tả mà còn để chất vấn. Đó là một thế giới mà ranh giới giữa thật và giả bị xóa nhòa, nơi con người phải sống trong trạng thái hoài nghi. Trong bối cảnh ấy, bài thơ “Kiếp này ta chửa thương ta” trở thành một lời tự vấn: “Làm sao thương nổi kiếp hoa bọt bèo !” (tr65). Khi bản thể bị vây bủa bởi đớn đau, liệu còn có thể yêu thương chính mình?

Tuy nhiên, điều đáng quý là Quang Hoài không dừng lại ở sự hoài nghi. Thơ ông là một hành trình đi qua hoài nghi để đến với sự “giải ảo”. Những ý thơ triết luận sâu sắc, như bài “Chỉ một” (tr423): “Ai cũng chỉ một/ thế rồi.../ Lên giời/ Xuống đất/Một thôi.../ Một đường…”; hoặc bài “Khát” (tr428) miêu tả: “Ta với ta/ Ngã thể”; bài “Chắc là” (tr429) rút ra bài học: “Giá mà ta không lóa/ Chắc là...ít dại ngu !” đã làm cho người đọc tự thấm thía, chiêm nghiệm, rút ra những chân lý giản dị nhưng sâu sắc. Ở đó, con người đối diện với giới hạn của mình, chấp nhận sự hữu hạn để tìm thấy sự tự do nội tâm.

Hình ảnh “Sẹo hoàng hôn” (tr398) là một sáng tạo đặc sắc, thể hiện rõ tư duy ấy. Nếu hoàng hôn là khoảnh khắc trôi qua, thì “sẹo” là dấu vết ở lại. Nhà thơ đã “vật chất hóa” ký ức, biến nó thành một phần không thể tách rời của bản thể. Điều này gợi đến một quan niệm văn hóa: Con người không chỉ sống bằng hiện tại, mà còn được cấu thành từ những “vết hằn” của quá khứ, thấm thía chiêm nghiệm cuộc đời.

Đỉnh điểm của hành trình ấy là triết lý “Mỗi ngày tôi lại một tôi” (tr499): " Mỗi ngày tôi lại một tôi/ Lá bay về cuội, vườn tươi tốt vườn"... Đây không phải là sự thay đổi tùy hứng, mà là một quá trình tự thanh tẩy, tự làm mới. Trong một thế giới đầy biến động, việc giữ được “một cái tôi” đã khó, nhưng Quang Hoài chọn cách mỗi ngày tái tạo chính mình. Đó là một thái độ sống mang tính văn hóa sâu sắc: Không cố chấp, không đóng khung, mà luôn vận động để tìm về bản chất tinh khiết nhất.

Từ góc nhìn này, thơ Quang Hoài không chỉ là nghệ thuật mà còn là một “thực hành tinh thần”. Nó giúp con người đối diện với chính mình, nhận ra những giới hạn, những tổn thương và từ đó tìm cách vượt qua. Đó cũng là lý do vì sao, dù mang nhiều suy tư, thơ ông không bi lụy mà vẫn giữ được một tinh thần nhân văn, hướng thiện.

Có thể nói, “Mỗi ngày tôi lại là tôi” không chỉ là một tuyển tập thơ, mà là một tuyên ngôn sống. Ở đó, ta thấy một Quang Hoài từng trải, đau đớn, hoài nghi, nhưng cũng kiên định và minh triết. Thơ ông giống như những hạt giống – lặng lẽ gieo vào lòng người đọc những câu hỏi, những suy tư, để rồi từ đó nảy nở thành những nhận thức mới về cuộc sống.

Trong dòng chảy văn hóa đương đại, khi nhiều giá trị bị xô lệch, sự xuất hiện của một tập thơ như thế này là một lời nhắc nhở: Văn chương, suy cho cùng, vẫn là nơi con người tìm về chính mình. Và với Quang Hoài, hành trình ấy chưa bao giờ dừng lại – bởi mỗi ngày, ông vẫn “lại là tôi”, một cái tôi luôn vận động, luôn kiếm tìm, và luôn say mê như thuở ban đầu.

V.X.B

Vũ Xuân Bân

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/doc-sach-va-suy-ngam-mot-doi-lam-tho-mot-doi-di-qua-chinh-minh-quang-hoai-duyen-no-voi-thi-ca-a32744.html