Đổi mới cách thức hoạt động của tổ chức tài trợ nghiên cứu khoa học
DNVN – Kết nối hiệu quả nghiên cứu khoa học với ưu tiên phát triển quốc gia, nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ là những vấn đề đặt ra, thúc đẩy các tổ chức tài trợ nghiên cứu đổi mới cách thức hoạt động trong thời gian tới.
Đặt lại trọng tâm trong hoạt động tài trợ nghiên cứu
Tại Phiên bàn tròn các cơ quan tài trợ thuộc Diễn đàn mở rộng kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam và các nước sáng 6/11, PGS Đào Ngọc Chiến - Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) cho rằng, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực then chốt cho sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, các cơ quan tài trợ nghiên cứu, trong đó có NAFOSTED, đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới tư duy, phương thức vận hành, cũng như cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực.

PGS Đào Ngọc Chiến - Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED). Ảnh: HT.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, các cơ quan tài trợ đang đứng trước hai yêu cầu lớn. Thứ nhất, làm thế nào để kết nối hiệu quả các nghiên cứu khoa học xuất sắc với các ưu tiên phát triển quốc gia, các công nghệ chiến lược và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Thứ 2, làm thế nào để bảo đảm các doanh nghiệp thực sự tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ từ khâu xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm, thay vì dừng lại ở vai trò tiếp nhận kết quả nghiên cứu vào giai đoạn cuối.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, nghiên cứu cơ bản là nền tảng quan trọng để tạo ra tri thức mới và những đột phá khoa học. Trong khi đó, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ giúp chuyển hóa tri thức khoa học thành các giải pháp cho những thách thức thực tiễn, tạo ra sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế - xã hội. Do đó, các cơ quan tài trợ cần thiết kế một danh mục chương trình cân bằng, vừa đảm bảo không gian cho nghiên cứu cơ bản phát triển, vừa cung cấp các cơ chế linh hoạt để thúc đẩy nghiên cứu định hướng ứng dụng và phát triển các công nghệ chiến lược.
Nhằm trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức tài trợ nước ngoài, phiên thảo luận bàn tròn tập trung vào một số nội dung chính gồm: kinh nghiệm kết nối các nghiên cứu xuất sắc với các ưu tiên phát triển, các công nghệ chiến lược và nhu cầu của doanh nghiệp; kinh nghiệm thiết kế các danh mục tài trợ cân bằng giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, giải quyết các thách thức thực tiễn.
Cùng với đó, phiên thảo luận cũng dành thời gian bàn thảo về cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào toàn bộ chu trình nghiên cứu và phát triển công nghệ; các điều kiện cần thiết để cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu và Nhà nước trong chia sẻ rủi ro và phân định quyền sở hữu trí tuệ.
Đồng thời, tìm kiếm được các cơ hội hợp tác giữa các cơ quan tài trợ thông qua các mô hình đồng tài trợ, các đợt kêu gọi đề xuất chung, quy trình đánh giá chung, cũng như việc chia sẻ đội ngũ chuyên gia và các hội đồng khoa học.
Đa dạng nguồn lực, thúc đẩy thương mại hóa
Tại phiên thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm kết nối nghiên cứu xuất sắc với mục tiêu phát triển quốc gia, ông Raden Arthur Ario Lelono - đại diện Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới quốc gia Indonesia (BRIN) cho biết, tất cả các chương trình nghiên cứu quốc gia của BRIN đều được thiết kế bám sát tầm nhìn chiến lược hướng tới 100 năm thành lập nước (Indonesia 2045).
Triết lý tài trợ của BRIN là nghiên cứu xuất sắc không chỉ dừng lại ở các bài báo hay công bố khoa học, mà phải giải quyết được các thách thức quốc gia và mang lại giá trị kinh tế - xã hội cụ thể. Cơ quan phân chia các chương trình tài trợ theo từng giai đoạn (từ nghiên cứu cơ bản, tạo mẫu prototype đến kiểm thử và thương mại hóa), đồng thời áp dụng ưu đãi thuế lên tới 300% cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đồng thời cung cấp nguồn vốn đối ứng để thu hút doanh nghiệp khi tham gia các dự án đổi mới công nghệ có mức độ rủi ro cao.

Bà Reiko Yuguchi – Giám đốc Văn phòng Singapore kiêm Văn phòng Chương trình NEXUS, Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST). Ảnh: HT.
Giới thiệu về cấu trúc tài trợ đa tầng theo ưu tiên của Tổng thống Nga, ông Sergey Konovalov - Đại diện Quỹ Khoa học Nga (RSF) cho biết, các dự án được chia thành 4 tầng. Tầng 1 là ưu tiên chiến lược cấp Tổng thống, tầng 2 là ưu tiên cấp Chính phủ, trong đó RSF tham gia tài trợ cho 4 chương trình công nghệ trọng điểm gồm vi điện tử, tự động hóa giao thông và thiết bị vận tải, hóa chất và vật liệu mới, cùng kinh tế sinh học. Tầng 3 là ưu tiên cấp vùng/địa phương. Hiện có 68 vùng tại Nga tham gia đồng tài trợ với RSF cho các dự án nghiên cứu cơ bản và ứng dụng gắn liền với nhu cầu địa phương. Tầng 4 là ưu tiên hợp tác quốc tế và xu hướng khoa học mới.
Đại diện quỹ tài trợ nghiên cứu công của Nhật Bản, bà Reiko Yuguchi - Giám đốc Văn phòng Singapore kiêm Văn phòng Chương trình NEXUS, Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) chia sẻ kinh nghiệm tuyển chọn hồ sơ tài trợ. Theo đó, JST chú trọng quy trình đánh giá 2 bước độc lập (xem xét hồ sơ và phỏng vấn), đồng thời áp dụng nguyên tắc "Kaizen" (cải tiến liên tục) trong quản lý chương trình và dự án.
Ông Maciej Jedrzejek - Phó Giám đốc Bộ phận Hợp tác Quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia Ba Lan (NCBR) trình bày các mô hình tài trợ hợp tác quốc tế như cuộc gọi đề xuất song phương, chương trình Innovo (chỉ tài trợ phía Ba Lan, nước ngoài tự bố trí kinh phí), tham gia các mạng lưới Eureka/Eurostars... NCBR khẳng định tính xuất sắc luôn là tiêu chí hàng đầu ngay cả đối với nghiên cứu ứng dụng.
Những kinh nghiệm từ Indonesia, Nga, Nhật Bản và Ba Lan cho thấy các tổ chức tài trợ có thể đổi mới hoạt động theo nhiều hướng, từ gắn nghiên cứu với ưu tiên quốc gia, thu hút doanh nghiệp đầu tư R&D đến cải tiến quy trình đánh giá và mở rộng hợp tác quốc tế.
Với Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao chất lượng tuyển chọn đề tài mà còn phải thiết kế cơ chế tài trợ xuyên suốt, giúp kết quả nghiên cứu được phát triển thành sản phẩm có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Trong đó, sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu và phát triển sản phẩm mẫu có ý nghĩa quan trọng.
