Đổi mới cách tiếp cận, cứu sống bà mẹ vùng khó
Ngày 24-3-2025, tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Quỹ MSD-for-Mothers (MSD cho các bà mẹ) tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án 'Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam'.

Các đại biểu của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Quỹ MSD-for-Mothers (MSD cho các bà mẹ) tham dự chương trình. Ảnh: Mai Hoa
Dự án được triển khai tại 60 xã đặc biệt khó khăn thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, mang lại những chuyển biến rõ rệt: Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc thai sản thiết yếu tăng từ 11% lên 36%. Tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế tăng từ 29,9% lên 57,1%. Bắc Kạn đạt tỷ lệ sinh tại cơ sở y tế 100%; Đắk Nông đạt tỷ lệ chăm sóc sau sinh 98,3%. Hơn 200 cán bộ y tế và 650 tình nguyện viên được đào tạo; khoảng 17.000 người dân được tiếp cận thông qua hơn 2.300 hoạt động truyền thông cộng đồng.
Đáng chú ý, sau 4 năm triển khai với tổng kinh phí 2 triệu USD, dự án đã ghi nhận những kết quả nổi bật, đặc biệt là không có ca tử vong bà mẹ nào tại các địa bàn can thiệp.
Những bước chân bền bỉ của đội ngũ y tế cơ sở
Giữa những dãy núi mờ sương phía Bắc hay các buôn làng xa xôi ở Tây Nguyên, sự thay đổi không đến từ những điều lớn lao, mà bắt đầu từ những bước chân bền bỉ của đội ngũ y tế cơ sở. Họ là cô đỡ thôn bản, là y sĩ tuyến xã - những người lặng lẽ mang tri thức y khoa đến từng nếp nhà, kiên trì thay đổi thói quen sinh nở vốn đã ăn sâu trong cộng đồng.
Ở Gia Lai, chị Hnhach, một cô đỡ thôn bản người Ba Na, đã trở thành chỗ dựa quen thuộc của phụ nữ trong vùng. Từ chỗ sinh con tại nhà là lựa chọn phổ biến, ngày càng nhiều sản phụ chủ động tìm đến sự hỗ trợ của cán bộ y tế. Chỉ trong một năm, chị đã giúp hàng chục ca sinh an toàn, góp phần thay đổi nhận thức của cả cộng đồng.
Câu chuyện của chị Lò Thị Thanh (Lai Châu) cũng vậy. Gần 20 năm gắn bó với nghề, y sĩ Lò Thị Thanh vẫn không quên những đêm băng rừng, vượt rét để kịp thời xử trí các ca băng huyết nguy kịch. Ở nơi mà mỗi quyết định đều có thể là ranh giới giữa sự sống và cái chết, sự có mặt của những cán bộ y tế như chị chính là “tấm lá chắn” cho các bà mẹ.
Từ những nỗ lực âm thầm ấy, Dự án đã tạo ra chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc thai sản thiết yếu tăng lên đáng kể, ngày càng nhiều ca sinh diễn ra tại cơ sở y tế thay vì tại nhà. Ở một số địa phương, việc sinh con tại cơ sở y tế đã trở thành lựa chọn gần như tuyệt đối, trong khi đó, công tác chăm sóc sau sinh cũng được cải thiện rõ rệt.

Các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: Mai Hoa
Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ, dự án còn chú trọng đào tạo nguồn lực tại chỗ và thay đổi hành vi trong cộng đồng. Hàng trăm cán bộ y tế và tình nguyện viên đã được tập huấn, hàng nghìn người dân được tiếp cận thông tin qua các hoạt động truyền thông gần gũi, phù hợp với văn hóa bản địa. Chính sự kết hợp giữa kiến thức y khoa và sự thấu hiểu cộng đồng đã tạo nên sức lan tỏa bền vững.
Tại hội nghị, đại diện các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý đều nhấn mạnh ý nghĩa của cách tiếp cận này. Những mô hình can thiệp phù hợp văn hóa không chỉ giúp phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế dễ dàng hơn, mà còn cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng cho việc xây dựng chính sách trong tương lai.
Ưu tiên chăm áo sức khỏe bà mẹ vùng sâu, vùng xa
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức khẳng định, các can thiệp trọng tâm dựa trên bằng chứng và phù hợp văn hóa đã cải thiện rõ rệt sức khỏe bà mẹ tại những cộng đồng khó tiếp cận. Ông nhấn mạnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là thước đo công bằng xã hội và phát triển bền vững.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức phát biểu tại chương trình. Ảnh: Mai Hoa
Vì vậy, chăm sóc bà mẹ vùng sâu, vùng xa luôn được ưu tiên hàng đầu. Kết quả và bài học của dự án đang được chia sẻ để tích hợp vào các chương trình quốc gia và cấp tỉnh, góp phần thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế, Dân số và Phát triển, cũng như Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2026–2030.

Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam trao đổi tại sự kiện. Ảnh: Mai Hoa
Trao đổi tại hội nghị, ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam nhấn mạnh: Các cách tiếp cận đổi mới, phù hợp văn hóa đã giúp tháo gỡ rào cản tiếp cận dịch vụ y tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số, đồng thời cung cấp bằng chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách. Những bài học kinh nghiệm từ dự án sẽ là cơ sở để hoạch định các chính sách quốc gia và địa phương, nhằm thu hẹp khoảng cách về sức khỏe ở các vùng dân tộc ít người.
Bà Rose Lauren Mariano, lãnh đạo khu vực Nhật Bản, Trung Quốc và Châu Á - Thái Bình Dương lĩnh vực Tác động Xã hội và Bền vững, MSD-for-Mothers cũng cho rằng, kết quả dự án cho thấy sự kết hợp giữa đổi mới sáng tạo, sự tham gia của cộng đồng và quan hệ đối tác chặt chẽ có thể tạo ra những cải thiện ý nghĩa về sức khỏe bà mẹ, kể cả ở vùng xa. Bà nhấn mạnh, MSD tự hào hợp tác với Bộ Y tế và UNFPA nhằm hỗ trợ các giải pháp giúp phụ nữ, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số, mang thai và sinh con an toàn hơn.

Bà Rose Lauren Mariano, đại diện MSD-for-Mothers chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: Mai Hoa
Nhân dịp MSD đánh dấu cột mốc 30 năm tại Việt Nam, bà Rose Lauren Mariano khẳng định yêu cầu cần bảo đảm mọi phụ nữ, dù ở bất kỳ đâu, đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc thai sản an toàn và chất lượng, góp phần vào mục tiêu chung toàn cầu là chấm dứt các ca tử vong bà mẹ có thể ngăn ngừa được vào năm 2030.

Hoạt động chụp ảnh giao lưu tại chương trình. Ảnh: Mai Hoa
Hơn cả những con số, điều đọng lại từ dự án là niềm tin rằng khoảng cách về chăm sóc sức khỏe hoàn toàn có thể được thu hẹp, nếu có cách làm phù hợp. Khi từng người mẹ ở bản làng xa xôi nhất cũng được tiếp cận dịch vụ y tế an toàn, đó không chỉ là thành công của ngành y tế, mà còn là thước đo của sự công bằng và phát triển bền vững.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/doi-moi-cach-tiep-can-cuu-song-ba-me-vung-kho-740797.html













