Đổi mới TXCT để gần dân, phục vụ nhân dân tốt hơn Bài 2: Số hóa để liên hệ thường xuyên, nhanh chóng

Việc số hóa hoạt động TXCT giúp cử tri phản ánh thuận tiện hơn, đại biểu nắm bắt nhanh hơn, cơ quan có thẩm quyền xử lý rõ trách nhiệm hơn và kiến nghị được theo dõi đến cùng. Muốn vậy, cần đồng thời tháo gỡ các "điểm nghẽn" về nền tảng dùng chung, liên thông dữ liệu, năng lực số, bảo mật thông tin và cơ chế phối hợp xử lý. Khi đó, TXCT sẽ từng bước vượt khỏi khuôn khổ những hội nghị theo kỳ, trở thành mối liên hệ thường xuyên, nhanh chóng giữa đại biểu với nhân dân.

Từ hội nghị định kỳ đến kết nối thường xuyên với cử tri

Trong cách làm truyền thống, TXCT thường gắn với một hội nghị được tổ chức theo kế hoạch; cử tri phát biểu, đại biểu và cơ quan chức năng tiếp thu, trả lời; ý kiến được ghi chép, tổng hợp, phân loại và báo cáo. Cách làm này vẫn cần thiết, nhất là với những vấn đề cần trao đổi trực tiếp, đối thoại nhiều chiều. Nhưng trong điều kiện đời sống xã hội vận động nhanh, nhiều vấn đề phát sinh ngay giữa các kỳ họp, chờ đến một cuộc TXCT định kỳ mới phản ánh thì có thể đã chậm.

Ngoài tiếp xúc cử tri theo định kỳ, đại biểu cần thay đổi phương pháp liên hệ với cử tri trong bối cảnh mới Ảnh: Bình Nguyên

Ngoài tiếp xúc cử tri theo định kỳ, đại biểu cần thay đổi phương pháp liên hệ với cử tri trong bối cảnh mới Ảnh: Bình Nguyên

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp càng đặt rõ hơn yêu cầu này. Khi cấp xã trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề dân sinh, khoảng cách giữa phản ánh của người dân và cơ quan có thẩm quyền được rút ngắn, TXCT cũng cần chuyển từ tư duy “đến kỳ mới tiếp xúc” sang “thường xuyên giữ liên hệ với cử tri”. Đây cũng là hướng các quy định mới về TXCT mở ra khi cho phép đa dạng địa điểm, đối tượng, nội dung và phương thức tiếp xúc, trong đó có trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp.

Từ đó, công nghệ số có thể trở thành hạ tầng kết nối thường xuyên giữa đại biểu và cử tri. Mã QR, cổng thông tin, ứng dụng, thư điện tử, nền tảng phản ánh hiện trường hay các kênh tương tác số không phải để thay thế hội nghị TXCT, mà để bổ sung một “kênh tiếp xúc” nhanh, thuận tiện và liên tục hơn. Điều quan trọng là sau khi tiếp nhận, mỗi ý kiến cần được số hóa thành thông tin có thể theo dõi: nội dung gì, thuộc địa bàn nào, cơ quan nào có thẩm quyền, đã chuyển chưa, đã trả lời chưa, kết quả thế nào. Khi đó, đại biểu không chỉ “nghe” mà có thể theo dõi kiến nghị trong suốt quá trình xử lý.

Đây là thay đổi đáng kể về phương thức hoạt động. TXCT không còn là một điểm thời gian, mà trở thành một quá trình liên tục; không chỉ có bước ghi nhận mà phải có cả chuyển xử lý, đôn đốc, giám sát và phản hồi.

Nâng cao, chuẩn hóa năng lực số cho đại biểu

Để chuyển từ TXCT truyền thống sang phương thức kết nối số, khó khăn không chỉ nằm ở hạ tầng công nghệ mà trước hết ở năng lực và phương pháp làm việc của đại biểu. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, địa bàn hoạt động rộng hơn, số lượng đại biểu ở một số nơi không nhiều, trong khi lượng thông tin cần tiếp nhận, xử lý ngày càng lớn. Đại biểu vì thế phải biết sử dụng các phần mềm phục vụ hoạt động HĐND, cập nhật và theo dõi kiến nghị trên hệ thống; khai thác dữ liệu để nhận diện vấn đề nổi lên ở địa bàn; sử dụng các kênh trực tuyến để giữ liên hệ với cử tri; ghi nhận phản ánh bằng hình ảnh, video, thông tin hiện trường; đồng thời biết tổng hợp, phân tích dữ liệu phục vụ giám sát, chất vấn và quyết định. Nếu không có kỹ năng số, đại biểu khó có thể theo kịp yêu cầu đổi mới hoạt động HĐND trong môi trường số.

Xác định rõ điều đó, ngay sau khi được bầu, đại biểu Adrơng H Bloai, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk đã chủ động học tập, nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu công việc. “Tôi xác định phải chủ động học hỏi, sử dụng công nghệ để nắm bắt thông tin, tiếp cận và phản ánh kịp thời những vấn đề của cử tri. Mình phải tự thay đổi thì mới theo kịp yêu cầu đổi mới hoạt động HĐND hiện nay”, đại biểu chia sẻ.

Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ đại biểu tổng hợp, phân loại kiến nghị, tra cứu văn bản, xây dựng báo cáo, theo dõi tiến độ và nhận diện những vấn đề được phản ánh nhiều lần. Tuy nhiên, đại biểu phải kiểm chứng thông tin và chịu trách nhiệm về nội dung sử dụng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là phổ cập kỹ năng số mà phải nâng cao, chuẩn hóa năng lực số của đại biểu, nhất là ở cấp xã.

Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin. Khi đưa kiến nghị, hình ảnh, dữ liệu cá nhân của cử tri lên môi trường số, đại biểu phải biết thông tin nào được chia sẻ, thông tin nào cần bảo mật; đồng thời có kỹ năng nhận diện, kiểm chứng thông tin sai lệch, xấu độc trên mạng. Từ góc độ cử tri, ông Nguyễn Tuấn Đạt, phường Hải Vân, thành phố Đà Nẵng nhấn mạnh, điều người dân cần không chỉ là thêm một kênh phản ánh, mà là gửi thuận tiện, được tiếp nhận nhanh, biết kiến nghị đang được xử lý ở đâu và nhận được câu trả lời rõ ràng.

Như vậy, số hóa TXCT giúp đổi phương thức kết nối giữa đại biểu và nhân dân: cử tri phản ánh thuận tiện hơn, đại biểu nắm bắt nhanh hơn, cơ quan có thẩm quyền xử lý rõ trách nhiệm hơn và kiến nghị được theo dõi đến cùng. Muốn vậy, cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về nền tảng dùng chung, liên thông dữ liệu, năng lực số, bảo mật thông tin và cơ chế phối hợp xử lý. Khi đó, TXCT sẽ từng bước vượt khỏi khuôn khổ những hội nghị theo kỳ, trở thành mối liên hệ thường xuyên, nhanh chóng giữa đại biểu với nhân dân.

Tân Hoà

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/doi-moi-txct-de-gan-dan-phuc-vu-nhan-dan-tot-hon-bai-2-so-hoa-de-lien-he-thuong-xuyen-nhanh-chong-10427735.html