Đơn giản hóa cấp mã số vùng trồng, tăng hậu kiểm
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, tăng cường quản lý bằng dữ liệu số nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Rút ngắn thời gian cấp mã, quản lý bằng dữ liệu số
Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Văn bản này được xây dựng như một giải pháp trước mắt để tháo gỡ vướng mắc trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện Nghị định 38/2026/NĐ-CP về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc ban hành Nghị quyết là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và quy định của các thị trường nhập khẩu, bảo đảm việc cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói kịp thời, minh bạch, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và hậu kiểm.
Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, dự thảo Nghị quyết đưa ra hai phương án nhưng cùng thống nhất chuyển từ cơ chế "tiền kiểm" sang tăng cường "hậu kiểm" trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, thủ tục được đơn giản hóa tối đa, song trách nhiệm quản lý sau cấp được tăng cường.
Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số được rút gọn chỉ còn đơn theo mẫu và thực hiện trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải cấp mã hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối. Trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý còn 2 ngày làm việc.

Toàn cảnh hội nghị Ảnh: Hạnh Nhung
Dự thảo cũng chuyển trọng tâm quản lý sang nền tảng dữ liệu số. Toàn bộ mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan, tạo điều kiện theo dõi, giám sát và hậu kiểm.
Đối với mã số phục vụ xuất khẩu, dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu phải đáp ứng quy định của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm các tiêu chuẩn kỹ thuật trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc.
"Với mã số phục vụ nội tiêu, thủ tục được rút gọn tối đa. Với xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường, thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho mọi trường hợp", ông Đạt nói.
Hậu kiểm chặt để bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam
Hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng hai phương án cấp mã số vùng trồng, với điểm khác biệt là có hay không gắn mã số với mã định danh đất đai ngay từ đầu. Theo phương án thứ nhất, mã số được cấp theo vị trí thửa đất và xác định trên cơ sở mã định danh đất đai. Trường hợp chưa có dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia phải được UBND cấp xã xác nhận, bổ sung thông tin trước khi đăng ký.
Góp ý nội dung này, nhiều địa phương cho rằng phương án 1 khó triển khai ngay do cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất, chủ yếu là đất nông nghiệp, chưa được chuẩn hóa dữ liệu. Nếu phải hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai trước khi cấp mã số vùng trồng, tiến độ giải quyết hồ sơ có thể bị kéo dài, đi ngược mục tiêu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu.
Vì vậy, các địa phương thống nhất lựa chọn phương án 2, đồng thời đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo theo hướng bảo đảm tính khả thi khi triển khai. Về lâu dài, địa phương kiến nghị, mã số vùng trồng được cấp trên cơ sở dữ liệu định danh đất đai để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong dữ liệu.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp thống nhất với phương án 2 và yêu cầu cơ quan soạn thảo khẩn trương hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ trước ngày 15/7.
Theo ông, trường hợp khu đất chưa có trong Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích làm căn cứ cấp mã số vùng trồng. Đây không phải là thủ tục phát sinh mà nhằm bảo đảm mỗi mã số gắn với một vị trí sản xuất xác định, hạn chế sai lệch thông tin và phục vụ truy xuất nguồn gốc, ông nói.
Thứ trưởng nhấn mạnh, đổi mới cơ chế cấp mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Vì vậy, quy định về hậu kiểm cần được cụ thể hóa bằng biểu mẫu, biên bản và quy trình kiểm tra để địa phương thuận lợi triển khai.
Đối với thời hạn 10 ngày xử lý hồ sơ đăng ký xuất khẩu, ông cho rằng đây là khoảng thời gian cần thiết để cơ quan chuyên môn kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường, tránh trường hợp vùng trồng không đạt tiêu chuẩn vẫn được cấp mã, ảnh hưởng đến uy tín nông sản Việt Nam khi bị nước nhập khẩu cảnh báo hoặc trả hàng.











