Dồn lực cho tăng trưởng
Với mức tăng trưởng 8,02% trong năm 2025, Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng vững chắc. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu nền kinh tế phải tăng tốc vượt trội trong điều kiện thế giới còn biến động, lạm phát và thương mại toàn cầu chưa hoàn toàn phục hồi là một thách thức rất lớn.
Xuất khẩu, đầu tư công và FDI
Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và biến động bất định để đạt được những phát triển đáng kể. Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, quy mô GDP đạt hơn 514 tỷ USD. Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) ấn tượng với tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2025 đạt 38,4 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, nhiều nhất từ khi có vốn đầu tư nước ngoài.
Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Đặc biệt, kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2025 đạt kỷ lục hơn 930 tỷ USD thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất siêu hơn 20 tỷ USD.
Tăng trưởng kinh tế vượt 8% của Việt Nam là điểm sáng trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, đặc biệt là căng thẳng thương mại, chính sách thuế đối ứng của Mỹ. Đây là mức cao nhất trong khu vực ASEAN và thuộc nhóm tăng trưởng hàng đầu thế giới, khu vực.

Sản xuất thiết bị điện tử xuất khẩu tại Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Trong bối cảnh khu vực tư nhân và xuất khẩu còn đối mặt nhiều rủi ro, Chính phủ tiếp tục kiên trì quan điểm lấy đầu tư công dẫn dắt, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có tính lan tỏa cao. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 4,2 triệu tỷ đồng, chiếm 32,3% so với GDP, tăng hơn 12% so với năm 2024. Ngành xây dựng có sự bứt phá với mức tăng 9,62%, cao nhất trong 8 năm gần đây nhờ việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công vào hàng loạt các công trình lớn, công trình trọng điểm trên phạm vi cả nước.
Song song với đầu tư hạ tầng cứng, chuyển đổi số được xác định là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại, gắn chặt với cải cách thể chế, kỷ cương hành chính và trách nhiệm người đứng đầu. Dữ liệu và nền tảng số ngày càng được coi là công cụ quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành.
Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Shantanu Chakraborty nhận định, thành công kinh tế của Việt Nam năm 2025 nhờ vào các yếu tố bên ngoài và trong nước, với thương mại và đầu tư tăng trưởng mạnh mẽ cùng các chính sách hiệu quả.
Mục tiêu 10% là khát vọng lớn nhưng có khả năng đạt được, nếu Việt Nam khai thác đúng các động lực. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định 3 động lực đổi mới mang tính đột phá. Đó là sự thay đổi về tư duy tăng trưởng, hướng tới mô hình hiệu quả, bao trùm, bền vững, lấy khu vực tư nhân, khoa học công nghệ và Nhà nước kiến tạo làm 3 trụ cột phát triển trong giai đoạn tới. Đầu năm 2026 khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 01 với các giải pháp toàn diện và quyết tâm cao thì mục tiêu tăng trưởng trên 10% sẽ khả thi.
TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội
"Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực rất lớn trong việc triển khai các cải cách sâu rộng nhằm hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng. Cải cách toàn diện trong chính sách phát triển - bao gồm khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển khu vực tư nhân, phát triển con người trong giáo dục và y tế, cũng như bảo đảm an ninh năng lượng - phù hợp và mang tính cấp thiết" - Giám đốc quốc gia ADB bày tỏ.
Cải cách thể chế, tái cơ cấu nền kinh tế
Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, đồng thời giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Bước sang năm 2026, triển vọng kinh tế Việt Nam vẫn đan xen giữa thách thức và cơ hội. Kinh tế thế giới còn nhiều biến động chịu tác động của căng thẳng địa chính trị, lạm phát... OECD, IMF, Cơ quan Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc (UNCTAD) đều dự báo tăng trưởng GDP của thế giới năm 2026 sẽ chậm lại.
Dù đánh giá cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng các tổ chức đều cảnh báo về tính dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài và rủi ro thương mại liên quan đến xuất xứ hàng hóa.
Trong nước, những tháng cuối năm, lãi suất VND chịu áp lực tăng nhanh, áp lực tỷ giá (VND mất giá 3,1% trong năm qua) và sự khó đoán định của thương mại quốc tế là những rào cản lớn.
Trong bối cảnh đó, kỳ vọng tăng trưởng cao hơn đặt ra áp lực lớn đối với điều hành vĩ mô, cải cách thể chế và huy động nguồn lực.
Báo cáo về tốc độ tăng trưởng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, TP trực thuộc T.Ư năm 2025, Cục Thống kê đã điểm những nhóm địa phương có bứt phá mạnh mẽ về tốc độ tăng GRDP. Về đóng góp vào tăng trưởng GDP, tăng trưởng năm 2025 tiếp tục dựa trên 5 địa phương chính, bao gồm: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh. Nhóm này đóng góp tới 55,4% vào tổng mức tăng trưởng chung của cả nước.
Thách thức lớn là tỷ lệ nội địa hóa thấp và sự liên kết yếu giữa FDI, tư nhân và nhà nước. Nếu không có cơ chế phối hợp và chia sẻ lợi ích rõ ràng, nền kinh tế sẽ thiếu sức bật nội sinh. Điều Việt Nam cần lúc này không chỉ là tăng tốc mà còn là tái cấu trúc để phát triển bền vững, dựa trên nền công nghiệp có khả năng tự chủ và kết nối chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là "nâng tầm" khu vực tư nhân phát triển.
TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị - Học viện Chính trị Khu vực II
Điểm chung của các địa phương này là định hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và lợi thế so sánh của địa phương; nền tảng công nghiệp và dịch vụ tương đối vững chắc; triển khai hiệu quả các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành. Việc phát huy nội lực gắn với thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI đã tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP đạt mức cao.
Ở nhóm thấp, tăng trưởng GRDP ở nhiều địa phương đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và dịch vụ giá trị cao chưa trở thành động lực chính, khiến tăng trưởng chưa bền vững.
Bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, trong năm 2026, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng chính là ở tốc độ và hiệu quả của công cuộc cải cách thể chế và tái cơ cấu nền kinh tế.
Việc tận dụng lợi thế quy mô, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và phát triển các lĩnh vực mới (chuyển đổi số, kinh tế xanh) sẽ là chìa khóa để duy trì đà tăng trưởng bền vững. Theo bà Nguyễn Thị Hương, cần có giải pháp mạnh mẽ để đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia. Đồng thời, nhà điều hành cần tháo gỡ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài. Nền kinh tế cũng cần tiếp tục tái cơ cấu theo chiều sâu, song song với thúc đẩy xuất khẩu, phát triển mạnh thị trường nội địa.
Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo động lực mới cho tăng trưởng như chip, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh.
TS Cấn Văn Lực đề xuất một loạt giải pháp. Trước hết là triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới được Quốc hội ban hành, đặc biệt là khoảng 7- 8 nghị quyết mang tính nền tảng. Thứ hai, cần cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, đáp ứng yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục theo chỉ đạo của Thủ tướng, qua đó củng cố niềm tin cho DN và nhà đầu tư. Thứ ba là tháo gỡ kịp thời các nút thắt cho tăng trưởng và an sinh xã hội, nhất là những vướng mắc phát sinh trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần được chỉ đạo quyết liệt để xử lý ngay từ quý I/2026.
Đặc biệt, ông lưu ý đến khu vực hộ kinh doanh và DN tư nhân, vốn đóng góp tỷ trọng lớn cho tăng trưởng nhưng đang gặp nhiều khó khăn. Các kiến nghị trọng tâm gồm: hướng dẫn rõ ràng việc áp dụng thuế kê khai; không hồi tố chính sách; tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm; đẩy mạnh truyền thông để giảm tâm lý lo ngại. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân và DN sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng, tác động ngược trở lại nền kinh tế.
PGS,TS Trần Đình Thiên cũng cho biết, mô hình tăng trưởng mới đang hình thành dựa trên 3 trụ cột chính, bao gồm: khu vực tư nhân được nhìn nhận đúng vị thế; khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất nền tảng, chứ không chỉ là mục tiêu khẩu hiệu; hạ tầng được phát triển theo tư duy hệ thống và liên kết chặt chẽ. Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng lưu ý rằng, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở năng lực thực thi để chuyển hóa những ý tưởng đột phá này thành hiện thực.
Để đạt được kết quả đột phá, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo lối mòn của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên vốn và lao động giá rẻ. Thay vào đó, trọng tâm phải đặt vào việc nâng cao năng suất lao động và lấy khoa học, công nghệ làm động lực nội sinh. Chìa khóa nằm ở việc huy động nguồn lực tư nhân và tháo gỡ các nút thắt về thể chế để thị trường thực hiện vai trò phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Khi môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, dòng vốn sẽ tự động tìm đến những địa chỉ có năng suất cao nhất, thay vì phải dựa vào các mệnh lệnh hành chính.
TS Nguyễn Đình Cung, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Nguồn KTĐT: https://kinhtedothi.vn/don-luc-cho-tang-truong.962660.html












