Đón sóng nâng hạng thị trường: Phân hóa lợi thế giữa các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán kỳ vọng bước vào chu kỳ tăng trưởng dài hạn về thanh khoản và dịch vụ khi thị trường chính thức được nâng hạng. Dù vậy, mức độ hưởng lợi từ làn sóng này sẽ có sự phân hóa đáng kể.

Ngành chứng khoán được đánh giá là một trong những nhóm có khả năng hưởng lợi trực tiếp từ quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo danh sách 27 cổ phiếu Việt Nam được FTSE xác nhận đủ điều kiện, có 7 cổ phiếu thuộc nhóm công ty chứng khoán, gồm HCM, SSI, TCX, VCI, VIX, VCK và VND. Đây là nhóm ngành có số lượng đại diện lớn trong rổ chỉ số được đề cập.

Động lực tăng trưởng của các công ty chứng khoán đến từ cả hai phía. Một mặt, quá trình nâng hạng có thể hỗ trợ thu hút dòng vốn mới vào thị trường cổ phiếu. Mặt khác, thanh khoản gia tăng, nhu cầu sử dụng đòn bẩy tài chính, hoạt động môi giới và ngân hàng đầu tư (IB) có thể tạo thêm dư địa tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận cho các doanh nghiệp trong ngành.

Ngành chứng khoán đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới

Theo báo cáo phân tích của Chứng khoán Tiên Phong (TPS), dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 của 81 công ty chứng khoán đang hoạt động, chu kỳ tăng trưởng mới của ngành đã xuất hiện trước thời điểm nâng hạng chính thức có hiệu lực.

Cụ thể, vốn chủ sở hữu toàn ngành tăng 51,7% so với cùng kỳ năm 2025. Dư nợ cho vay margin tăng 49,2%, trong khi doanh thu hoạt động tăng 47,4%. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 20.170 tỷ đồng, tăng 38,6% so với mức khoảng 14.549 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

 Bức tranh tài chính chứng khoán nửa đầu năm 2026. 

 Bức tranh tài chính chứng khoán nửa đầu năm 2026. 

Đáng chú ý, hoạt động ngân hàng đầu tư ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Doanh thu IB toàn ngành đạt 3.842 tỷ đồng, tăng 98,1% so với 1.940 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy các hoạt động tư vấn tài chính, huy động vốn và bảo lãnh phát hành đang dần sôi động trở lại sau giai đoạn trầm lắng.

Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao của toàn ngành chưa phản ánh sự phân bổ đồng đều giữa các doanh nghiệp. Theo TPS, 15 công ty chứng khoán dẫn đầu về lợi nhuận sau thuế trong 6 tháng đầu năm 2026 đóng góp 84,9% tổng lợi nhuận của 81 doanh nghiệp có số liệu.

Nhóm Top 15 đồng thời chiếm 64,6% vốn chủ sở hữu và 70,1% dư nợ margin toàn ngành. Xét theo từng mảng hoạt động, nhóm này đóng góp 71% doanh thu hoạt động, 82,6% lợi nhuận gộp từ tự doanh, 70,4% doanh thu cho vay và 73,7% doanh thu môi giới. Đối với hoạt động ngân hàng đầu tư, tỷ trọng đóng góp lên tới 94,2%.

Làn sóng tăng vốn tiếp tục diễn ra

Trong bối cảnh kỳ vọng về chu kỳ tăng trưởng mới, các công ty chứng khoán đang đẩy mạnh kế hoạch bổ sung vốn nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh.

Theo TPS dẫn số liệu từ S&I Ratings, tổng quy mô tăng vốn của ngành chứng khoán trong năm 2026 ước khoảng 100.000 tỷ đồng, tương đương mức cao của năm 2025. Nguồn vốn mới được định hướng phân bổ cho hoạt động cho vay margin, đầu tư tự doanh, phát triển ngân hàng đầu tư và nâng cấp hạ tầng công nghệ.

Ở nhóm công ty chứng khoán có quy mô vốn lớn, HSC đang triển khai kế hoạch huy động khoảng 5.000 tỷ đồng, qua đó nâng vốn điều lệ từ 10.808 tỷ đồng lên gần 15.800 tỷ đồng. Nguồn vốn dự kiến chủ yếu phục vụ hoạt động cho vay margin và củng cố năng lực tài chính.

Trong khi đó, MBS dự kiến huy động khoảng 3.337 tỷ đồng, với khoảng 70% nguồn vốn dành cho hoạt động margin.

Ở nhóm quy mô vừa, SHS dự kiến nâng vốn điều lệ lên khoảng 10.064 tỷ đồng; ABW có kế hoạch huy động khoảng 2.000 tỷ đồng để bổ sung vốn cho margin và tự doanh; VDS dự kiến tăng vốn lên khoảng 4.500 tỷ đồng nhằm mở rộng hai mảng hoạt động này.

Bên cạnh đó, APG dự kiến huy động khoảng 550 tỷ đồng thông qua phát hành riêng lẻ. VikkiBankS có kế hoạch phát hành riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 3.000 tỷ đồng và nâng vốn điều lệ lên 3.500 tỷ đồng. Một số công ty như KAFI và UPSC cũng đang triển khai các phương án tăng vốn để bổ sung nguồn lực cho hoạt động kinh doanh và cho vay ký quỹ.

Theo TPS, việc mở rộng vốn diễn ra đồng thời với xu hướng gia tăng dư nợ margin. Tính trên toàn ngành, dư nợ cho vay margin tương đương khoảng 0,99 lần vốn chủ sở hữu, vẫn thấp hơn ngưỡng tối đa 200% vốn chủ sở hữu theo quy định.

Tuy nhiên, dư địa này không phân bổ đồng đều giữa các doanh nghiệp. Một số công ty còn khả năng mở rộng cho vay trên nền vốn hiện hữu, trong khi những doanh nghiệp có tỷ lệ sử dụng vốn cao có thể cần ưu tiên củng cố năng lực tài chính trước khi tiếp tục tăng trưởng dư nợ.

TPS phân nhóm 30 công ty chứng khoán theo mức độ hưởng lợi

Dựa trên các tiêu chí về quy mô lợi nhuận, vốn điều lệ, dư nợ margin, môi giới, tự doanh, ngân hàng đầu tư, doanh thu lưu ký và định giá, TPS phân loại 30 công ty chứng khoán có lợi nhuận sau thuế cao nhất trong 6 tháng đầu năm 2026 thành 4 nhóm theo mức độ hưởng lợi từ chu kỳ nâng hạng thị trường.

Nhóm Tác động tích cực nổi bật (Nhóm A) gồm SSI, TCX, VPX, MBS, VCI, HDBS, HCM và VCBS. Điểm chung của các công ty này là có mức tăng trưởng và năng lực cạnh tranh trên nhiều trụ cột hoạt động, thay vì chỉ nổi bật ở một mảng kinh doanh riêng lẻ.

Nhóm Tác động tích cực đáng kể (Nhóm B) gồm ACBS, SHS, LPS, VCK, BSI, KAI và MSVN… Các CTCK trong nhóm thường có lợi thế rõ rệt ở một hoặc hai trụ cột kinh doanh, nhưng điểm số bị hạn chế bởi kết quả hoặc năng lực ở một số tiêu chí còn lại, đặc biệt là hoạt động ngân hàng đầu tư (IB)

Nhóm Tác động tích cực ở mức vừa phải và Nhóm Tác động hạn chế (Nhóm C và D) chiếm tỷ trọng nhỏ trong danh sách 30 CTCK có lợi nhuận sau thuế cao nhất ngành. Cụ thể, Nhóm C gồm 3 công ty là DSC, ABW và BMS, trong khi Nhóm D có 2 công ty là HRS và VTSS. Dù vẫn nằm trong nhóm có lợi nhuận cao nhất ngành, các CTCK này có mức độ hưởng lợi từ nâng hạng thấp hơn 2 nhóm trên do hạn chế ở các tiêu chí mang tính nền tảng như quy mô vốn chủ sở hữu, dư nợ margin, thị phần môi giới, năng lực in IB và khả năng phục vụ khách hàng tổ chức.

Sự phân hóa về mức độ hưởng lợi được thể hiện rõ qua tương quan đóng góp lợi nhuận giữa các nhóm CTCK. Theo TPS, 8 CTCK thuộc Nhóm A, tương đương 9,9% tổng số công ty chứng khoán toàn ngành, tạo ra 52,7% tổng lợi nhuận sau thuế trong 6 tháng đầu năm 2026. Trong khi đó, 43 CTCK thuộc Nhóm D, chiếm 53,1% số lượng toàn ngành, chỉ đóng góp 6,1% tổng lợi nhuận sau thuế.

Ở nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn nhất, 4 CTCK gồm TCX, SSI, VCK và VPX chiếm chưa đến 5% tổng số CTCK toàn ngành và lần lượt nắm giữ 33,3% vốn chủ sở hữu, 35,5% dư nợ margin, 40,1% doanh thu môi giới và 48,9% lợi nhuận sau thuế toàn ngành.

Theo đánh giá của TPS, phần lớn lợi ích từ chu kỳ nâng hạng thị trường nhiều khả năng sẽ tập trung tại các CTCK có quy mô vốn lớn, nền tảng cho vay margin và môi giới vững chắc, đồng thời có khả năng mở rộng các nguồn thu từ khách hàng tổ chức và hoạt động ngân hàng đầu tư.

Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi giữa các CTCK có thể khác biệt đáng kể, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô vốn, năng lực cung cấp margin, thị phần môi giới, cơ cấu khách hàng và khả năng phát triển các mảng dịch vụ có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là IB.

Định giá cổ phiếu chứng khoán phân hóa theo P/B

Định giá về cổ phiếu chứng khoán, dữ liệu lịch sử 5 năm cho thấy P/B bình quân toàn ngành ở mức 1,78 lần, trung vị 1,72 lần và độ lệch chuẩn 0,48 lần. Trên cơ sở đó, khoảng P/B từ 1,31 lần đến 2,26 lần, tương ứng mức bình quân cộng/trừ một độ lệch chuẩn, được sử dụng làm vùng tham chiếu.

Trong nhóm 20 công ty chứng khoán có vốn chủ sở hữu lớn nhất, 9 mã có P/B thấp hơn mặt bằng ngành, gồm VPX, VIX, VND, DSC, ABW, TVS, SHS, VDS và ORS.

Theo số liệu trong báo cáo, VIX, VPX, ABW và VND đồng thời duy trì tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ở mức hai chữ số, lần lượt đạt 16,5%, 16,2%, 13,8% và 12,8%.

Tuy nhiên, mức P/B thấp không đồng nghĩa với việc cổ phiếu đương nhiên có định giá hấp dẫn. TPS lưu ý cần đặt hệ số này trong mối tương quan với hiệu quả sử dụng vốn và khả năng sinh lời của từng doanh nghiệp.

Chẳng hạn, TVS và SHS có P/B thấp hơn mặt bằng ngành nhưng ROE lần lượt chỉ đạt 6,9% và 8,1%. Điều này cho thấy nhà đầu tư cần xem xét đồng thời chất lượng lợi nhuận, hiệu quả hoạt động và khả năng cải thiện ROE trong tương lai.

Ở chiều ngược lại, TCX, VCK và HCM có P/B lần lượt 2,42 lần, 2,33 lần và 2,43 lần, đều cao hơn ngưỡng 2,26 lần.

Theo TPS, mức định giá cao hơn mặt bằng cần được xem xét cùng vị thế, quy mô vốn và khả năng khai thác cơ hội tăng trưởng của từng công ty chứng khoán. Trong đó, VCK có ROE 17,2%, cao nhất trong nhóm 20 công ty được đề cập, tạo cơ sở để phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả sinh lời và định giá.

Đối với HCM, hệ số P/B đạt 2,43 lần trong khi ROE ở mức 9,8%. Do đó, khả năng duy trì mức định giá hiện tại sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc doanh nghiệp có thể tiếp tục cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và kết quả kinh doanh hay không.

Theo đánh giá của TPS, nâng hạng FTSE có thể trở thành điểm khởi đầu cho một chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều động lực kinh doanh đã xuất hiện trước thời điểm dòng vốn ETF thực sự giải ngân.

TPS đánh giá triển vọng ngành trong giai đoạn 2026–2030 theo hướng tích cực, song mức độ hưởng lợi giữa các doanh nghiệp sẽ có sự khác biệt. Khả năng chuyển hóa cơ hội nâng hạng thành tăng trưởng lợi nhuận còn phụ thuộc vào dòng vốn thụ động từ FTSE, diễn biến thanh khoản, chất lượng nguồn thu và hiệu quả sử dụng vốn của từng công ty chứng khoán.

Bên cạnh đó, các yếu tố như khả năng thu hút dòng vốn chủ động, tiến độ hoàn thiện hạ tầng công nghệ, hệ thống đối tác bù trừ trung tâm (CCP) với mục tiêu triển khai trong quý I/2027, cùng diễn biến lãi suất, tỷ giá, lạm phát, giá dầu và rủi ro địa chính trị toàn cầu sẽ tiếp tục tác động đến triển vọng của ngành.

Thơ Hoàng

Nguồn Doanh Nhân VN: https://doanhnhanvn.vn/don-song-nang-hang-thi-truong-phan-hoa-loi-the-giua-cac-cong-ty-chung-khoan.html