Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới

Năm 2026 là năm đầu tiên toàn tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030; đồng thời, đây cũng là năm có nhiều bứt phá trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) quốc gia. Ngày KHCN và ĐMST Việt Nam (18/5) năm nay có chủ đề: 'KHCN, ĐMST và CĐS: Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới' thêm một lần nữa khẳng định vai trò kiến tạo, dẫn dắt của 3 yếu tố then chốt này trong tạo đột phá cho mọi mặt kinh tế-xã hội (KT-XH). Nhân sự kiện này, phóng viên (P.V) Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Trị đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Đặng Ngọc Tuấn, Giám đốc Sở KHCN.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Tiến sỹ Đặng Ngọc Tuấn - Ảnh: Sở KHCN

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Tiến sỹ Đặng Ngọc Tuấn - Ảnh: Sở KHCN

P.V: Thưa ông, xin ông chia sẻ về những thành tựu KHCN và ĐMST của tỉnh Quảng Trị thời gian qua?

Ông Đặng Ngọc Tuấn: Thời gian qua, hoạt động KHCN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần hỗ trợ quá trình phát triển KT-XH của địa phương. Công tác quản lý nhà nước về KHCN từng bước được củng cố; các cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và phát triển tài sản trí tuệ được ban hành và triển khai tương đối đồng bộ.

Quy trình quản lý nhiệm vụ KHCN được chuẩn hóa từ khâu xác định nhiệm vụ, tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì, tổ chức thực hiện đến đánh giá, nghiệm thu và chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu. Việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu từng bước được định hướng theo nhu cầu phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, y dược và khoa học xã hội.

Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh triển khai 229 nhiệm vụ KHCN các cấp, gồm: 6 đề tài, dự án cấp quốc gia; 8 dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi; 188 nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh và 27 nhiệm vụ cấp cơ sở. Các nhiệm vụ KHCN được phê duyệt thực hiện cân đối, đồng đều trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học nông nghiệp, tạo tiền đề cho việc đưa ra những luận cứ, quy trình công nghệ, sản phẩm phù hợp với đặc thù, lợi thế của địa phương. Từ đó, thúc đẩy ứng dụng, thương mại hóa sản phẩm, đồng thời phát huy được vai trò, tầm quan trọng của từng lĩnh vực, đóng góp thiết thực cho các mục tiêu phát triển bền vững KT-XH của tỉnh.

Các nhiệm vụ được định hướng ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng phục vụ trực tiếp sản xuất, đời sống, gắn với phát triển các sản phẩm hàng hóa chủ lực của tỉnh và ứng dụng các công nghệ cao, công nghệ chủ chốt của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 vào các ngành, lĩnh vực. Sở KHCN bước đầu đã triển khai thực hiện nhiệm vụ theo chuỗi giá trị sản phẩm, bảo đảm mỗi nhiệm vụ có địa chỉ ứng dụng cụ thể, đáp ứng nhu cầu thiết thực của các địa phương, doanh nghiệp.

Nhờ định hướng đó, phần lớn kết quả các đề tài, dự án sau nghiệm thu đều được chuyển giao ứng dụng vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống. Tỉ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng đạt khoảng trên 80% trên tổng số nhiệm vụ KHCN hoàn thành.

Nhiều kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao và áp dụng vào thực tiễn, góp phần giải quyết hiệu quả các vấn đề cấp thiết tại địa phương. Thông qua việc triển khai các nhiệm vụ KHCN, nhiều kỹ thuật, công nghệ tiên tiến đã được nghiên cứu, làm chủ và chuyển giao thành công, tạo ra các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao. Nhìn chung, các kết quả đạt được đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét, có tiềm năng phát triển và mở rộng áp dụng, qua đó, đóng góp tích cực vào phát triển KT-XH của tỉnh.

P.V: Bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn không ít khó khăn, xin ông chia sẻ thêm về các thách thức này?

Ông Đặng Ngọc Tuấn: Thực tế cho thấy, hoạt động nghiên cứu KHCN trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Mối liên kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học với nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Nhiệm vụ KHCN được phê duyệt đang xoay quanh nội dung tổ chức nghiên cứu, dựa trên lĩnh vực chuyên môn và năng lực tổ chức nghiên cứu sẵn có, hơn là xuất phát từ các vấn đề cụ thể đang đặt ra trong sản xuất và đời sống mà doanh nghiệp, người dân, xã hội đang cần.

Do đó, nội dung nghiên cứu có xu hướng khép kín trong phạm vi chuyên ngành, thiếu gắn kết với các bài toán thực tiễn, dẫn đến tình trạng một số kết quả nghiên cứu chưa có địa chỉ ứng dụng rõ ràng hoặc khó triển khai nhân rộng trong điều kiện thực tế của địa phương.

Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh triển khai 229 nhiệm vụ khoa học-công nghệ các cấp - Ảnh: Sở KHCN

Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh triển khai 229 nhiệm vụ khoa học-công nghệ các cấp - Ảnh: Sở KHCN

Thêm vào đó, sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu KHCN còn đơn lẻ, thiếu tính liên kết, chưa có định hướng dài hạn nên chưa phát huy được vai trò là chủ thể trung tâm của quá trình ĐMST. Nguyên nhân xuất phát từ phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính và năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên chưa chủ động đầu tư cho hoạt động đổi mới công nghệ. Điều này dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu khoa học chưa được khai thác hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh.

Ngoài ra, khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp. Nhiều kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu mới dừng lại ở quy mô mô hình thử nghiệm hoặc ứng dụng ở phạm vi hẹp, chưa được nhân rộng trong sản xuất. Các tổ chức trung gian hỗ trợ ĐMST, như: Trung tâm ĐMST, vườn ươm công nghệ và tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ chưa được hình thành trên địa bàn tỉnh.

Nguồn nhân lực KHCN của tỉnh còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ mới, như: Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn hay công nghệ sinh học còn ít. Đồng thời, nguồn lực đầu tư cho KHCN vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, trong khi sự tham gia của khu vực doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội còn hạn chế.

P.V: Vậy Quảng Trị sẽ triển khai những giải pháp nào để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu KHCN gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, thưa ông?

Ông Đặng Ngọc Tuấn: Quảng Trị cần có những giải pháp mang tính đột phá, chiến lược để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu KHCN, ĐMST gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật KHCN và ĐMST 2025; Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội, Chiến lược phát triển KHCN và ĐMST giai đoạn 2026-2030. Trong đó, tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách về định hướng phát triển KHCN và ĐMST giai đoạn 2026-2030 của tỉnh theo hướng tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch, linh hoạt, khuyến khích nghiên cứu KHCN, ĐMST và gắn với yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương.

Tỉnh cần tập trung hoàn thiện các quy định về cơ chế đặt hàng và phương thức xác định nhiệm vụ KHCN theo cơ chế đặt hàng phù hợp với bài toán phát triển của địa phương. Trong đó, nhiệm vụ KHCN phải xuất phát từ những vấn đề lớn, cấp thiết trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế, như: Nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, năng lượng tái tạo, du lịch và CĐS; ưu tiên ứng dụng công nghệ mới, công nghệ số, công nghệ xanh và các mô hình ĐMST nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong quản lý, sản xuất và kinh doanh.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ làm việc với tỉnh Quảng Trị về vận hành bộ máy chính quyền địa phương - Ảnh: Sở KHCN

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ làm việc với tỉnh Quảng Trị về vận hành bộ máy chính quyền địa phương - Ảnh: Sở KHCN

Đồng thời, cần xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra và tiêu chí đánh giá ngay từ khâu đặt hàng, từ đó, nâng cao tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu, tạo cơ sở để các tổ chức KHCN, doanh nghiệp đề xuất những giải pháp công nghệ phù hợp, khả thi, sát với nhu cầu thực tiễn.

Bên cạnh đó, quản lý nhiệm vụ KHCN phải theo sản phẩm đầu ra và hiệu quả ứng dụng, cơ chế tài chính linh hoạt gắn với đặc thù hoạt động nghiên cứu, chính sách về sở hữu trí tuệ, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, góp phần hình thành các chuỗi giá trị dựa trên KHCN và ĐMST, thúc đẩy phát triển KT-XH bền vững.

Cần xây dựng và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới trong các lĩnh vực ưu tiên; xây dựng và thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực KHCN theo hướng cạnh tranh, linh hoạt, gắn với kết quả đầu ra...

Một giải pháp quan trọng khác chính là xây dựng và phát triển hệ sinh thái hợp tác “3 nhà” (Nhà nước-Nhà trường-Doanh nghiệp) theo hướng đồng bộ, hiệu quả, bám sát tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, viện, trường là chủ thể nghiên cứu và cung cấp tri thức, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và thị trường, phục vụ trực tiếp mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Đồng thời, phát triển thị trường KHCN trên địa bàn thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung-cầu công nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ, giới thiệu, quảng bá kết quả nghiên cứu KHCN và ĐMST; hình thành và phát triển các tổ chức trung gian, như: Trung tâm ĐMST, vườn ươm công nghệ, tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ và các nền tảng kết nối cung-cầu công nghệ; nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này trong việc tư vấn, môi giới, đánh giá, định giá và hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu KHCN, ĐMST.

Khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp KHCN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên kết quả nghiên cứu KHCN và ĐMST; tạo lập môi trường thuận lợi để rút ngắn quá trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư cho KHCN, thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh.

Tỉnh cần đa dạng hóa và huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho KHCN và ĐMST theo quan điểm là đầu tư của toàn xã hội, trong đó nguồn lực từ doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, ngân sách nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt và “vốn mồi”. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và CĐS; tạo điều kiện để doanh nghiệp được tham gia, đồng tài trợ và hưởng lợi từ các nhiệm vụ KHCN; khuyến khích thành lập và sử dụng hiệu quả quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai đối với hoạt động nghiên cứu và ĐMST.

P.V: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi ý nghĩa này!

Mai Nhân (thực hiện)

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/khoa-hoc-cong-nghe/202605/dong-luc-chinh-cua-mo-hinh-tang-truong-moi-8ad70ad/