Động lực quan trọng để xác lập mô hình tăng trưởng mới

'Tư duy hướng tới việc xác lập mô hình tăng trưởng mới đã phản ánh trong các nghị quyết về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, văn hóa, y tế, giáo dục... Chúng ta đã nhận thấy quyết tâm của việc chuyển hóa từ những tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược thành hành động thực tiễn', TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, trao đổi với KTSG.

Các mục tiêu phát triển kinh tế vừa là động lực, vừa là áp lực...

KTSG: Nghị quyết Đại hội Đảng XIV vừa được thông qua đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển cho giai đoạn 2026-2030 như phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 đô la Mỹ; tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm... Ông bình luận như thế nào về các mục tiêu này?

- TS. Lê Duy Bình: Các mục tiêu, chỉ tiêu cùng với 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 được thông qua vừa là động lực vừa là áp lực cho mọi chủ thể của nền kinh tế biến tầm nhìn chiến lược, tư tưởng, tinh thần đổi mới quyết liệt trong thời gian qua thành hành động cụ thể.

Hành động đó trước tiên phải đến từ các cơ quan chịu trách nhiệm cải cách về thể chế nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn của điểm nghẽn, nâng cao chất lượng thực thi pháp luật, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh - đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, và kế đến là các chủ thể khác của nền kinh tế: các doanh nghiệp, nhà đầu tư, hộ kinh doanh, người dân...

Với môi trường thể chế ngày càng được cải thiện, các chủ thể của nền kinh tế phải hành động để đảm bảo việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tốt hơn, áp dụng nhiều hơn nguyên tắc của kinh tế thị trường. Việc tiếp cận, sử dụng nguồn lực cần dựa trên các nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng, minh bạch.

Điều này sẽ trực tiếp đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời, góp phần thay đổi cách hành xử của các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người dân nhằm xác lập một mô hình tăng trưởng mới, phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

KTSG: Mấu chốt nằm ở việc xác lập mô hình tăng trưởng mới với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Điều này đòi hỏi thay đổi tư duy, cấu trúc và các cấu thành của nền kinh tế. Ông đã nhìn thấy những sự chuyển đổi hướng tới mục tiêu này chưa?

- Tư duy hướng tới việc xác lập mô hình tăng trưởng mới đã phản ánh trong các nghị quyết của Đảng gần đây. Thứ nhất, đó là làm mới những động lực tăng trưởng cũ, tăng trưởng không dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, tăng quy mô vốn và thâm dụng lao động mà phải ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Cùng với đó, chúng ta phải khai thác tốt những động lực mới, vừa làm nền tảng vừa là tiền đề cho tăng trưởng.

Thứ hai là các nghị quyết đều nhấn mạnh hơn về hiệu quả sử dụng nguồn lực, về chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được xác định là yếu tố quan trọng để đảm bảo tăng trưởng cao và bền vững chứ không chỉ đơn thuần dựa vào các nhân tố đầu vào; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là phương tiện, công cụ thiết yếu cho tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, nhiều tư tưởng mới, rất “chạm” đã được xác định trong các nghị quyết. Ví dụ, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất; củng cố, nâng cao tính hiệu quả của khu vực tư nhân sẽ giúp nâng cao tính tự cường và bền vững của nền kinh tế. Hay vấn đề sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của kinh tế nhà nước, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực đất đai, hạ tầng, không gian trên cao, không gian ngầm, cơ sở hạ tầng, tài nguyên số, dữ liệu..., xây dựng môi trường cạnh tranh tích cực hướng tới sự trưởng thành, hoàn thiện và lớn mạnh của các cấu thành trong nền kinh tế.

Cuối cùng là nguồn vốn con người. Các nghị quyết của Bộ Chính trị đã hỗ trợ cho việc phát triển vốn con người của Việt Nam, đồng thời khẳng định tư tưởng con người là trung tâm của quá trình phát triển, nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Những nghị quyết này đặt nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, lấy xây dựng con người làm trọng tâm để định hướng hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ... Đây là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng.

Việt Nam có nhiều lợi thế

KTSG: Ông hình dung thế nào về cách thức chúng ta tiến tới mô hình tăng trưởng mới nêu trên, tập trung vào những ngành mũi nhọn, tạo sự liên kết, lan tỏa kéo theo các ngành khác hay tạo ra nền tảng thông qua hạ tầng, nhân lực và các động lực như bình dân học vụ số..., từ đó, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bằng các động lực mới?

- Việt Nam vẫn phải đi theo xu hướng chung của kinh tế toàn cầu, đồng thời, khai thác được những lợi thế so sánh. Như vậy, một mặt, chúng ta phải phát triển kinh tế số, các ngành công nghiệp có tính chất chủ lực trong tương lai như ngành chip bán dẫn, công nghệ vật liệu... để hòa nhập cùng dòng chảy chung và đảm bảo tính tự cường của nền kinh tế trong công cuộc chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới. Mặt khác, Việt Nam cần phát huy các lợi thế truyền thống như ngành nông nghiệp, du lịch, dịch vụ... Chúng ta phải khai thác tốt những ngành này, hình thành khung tăng trưởng mới cho chúng thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Do đó, chúng ta không thể tập trung toàn bộ nguồn lực xây dựng những ngành công nghiệp chủ chốt cho tương lai, mà vẫn phải củng cố nền tảng hạ tầng, nhân lực..., khuyến khích sự chuyển đổi hướng tới tăng trưởng cao và bền vững ở các ngành mà Việt Nam đang có thế mạnh.

KTSG: Trên con đường hướng tới mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam có những lợi thế gì, thưa ông?

- Việt Nam có thể tận dụng lợi thế người đi sau để học hỏi và rút ra bài học từ những nền kinh tế đi trước. Một trong những điểm nghẽn khiến nhiều quốc gia đã không thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là thể chế kinh tế. Chúng ta đã nhận thức rõ vấn đề này và đã đặt ra yêu cầu xây dựng đồng bộ thể chế phát triển hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn sắp tới.

Thứ hai, Việt Nam có quyết tâm rất lớn và đã có sự chuyển hóa từ quyết tâm thành hành động thực tiễn. Quyết tâm bước vào cuộc đổi mới kinh tế lần này từ cấp lãnh đạo cao nhất đã truyền cảm hứng cho các cơ quan thực thi, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và đi vào nhận thức của từng người dân. Sự chuyển hóa thành hành động sẽ ngày càng tích cực và sẽ tạo ra tác động tốt tới nền kinh tế.

Lợi thế thứ ba là Việt Nam đang có sự ổn định về kinh tế vĩ mô. Năng lực điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước được cải thiện nhiều, chất lượng quản trị công dân dần được nâng cao. Từ phía doanh nghiệp, sức chống chịu và khả năng thích ứng cũng đang ngày càng khả quan.

Cuối cùng, nếu chúng ta huy động tốt nguồn vốn con người, đó sẽ là điểm mấu chốt để xoay chuyển tình thế, vượt bẫy thu nhập trung bình và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Theo tôi, nguồn vốn con người chính là lợi thế lớn nhất của Việt Nam.

Hoàng Hạnh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/dong-luc-quan-trong-de-xac-lap-mo-hinh-tang-truong-moi/