Đồng Tháp: Nông dân trồng xoài keo mong sớm được cấp mã số vùng trồng
Hộ dân trồng xoài keo tại xã Bình Hàng Trung, tỉnh Đồng Tháp có đơn đề nghị chính quyền địa phương cấp mã số vùng trồng cho biết, vẫn đang chờ kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Do chưa có mã số vùng trồng, nhiều diện tích xoài chỉ được bán tại thị trường nội địa, với giá hiện tại chỉ bằng khoảng 1/3 so với kênh xuất khẩu.

Ông Lương Quốc Toản tại vườn xoài còn vài ngày nữa bắt đầu thu hoạch. (Ảnh: HỮU NGHĨA)
Phản ánh đến phóng viên Báo Nhân Dân, ông Lương Quốc Toản (ngụ ấp 2B, xã Bình Hàng Trung, tỉnh Đồng Tháp) cho biết, ngày 9/10, gia đình ông đại diện cho nhóm hộ gia đình có đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng với tên vùng trồng đề nghị cấp là: “Vùng trồng xoài keo Lương Ngọc Tấn”. Vùng trồng có diện tích hơn 5,6ha, tại ấp 2B, xã Bình Hàng Trung.
Chiều 18/10, thông tin với phóng viên, ông Lương Quốc Toản cho biết, đến thời điểm này, gia đình ông vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi kết quả đạt hay không đạt về việc cấp mã số vùng trồng từ chính quyền địa phương.
Theo ông Toản, tại các vườn xoài nhà ông đã bắt đầu thu hoạch. Ước tính trong vụ này, tổng sản lượng của diện tích 5,6ha đạt khoảng gần 100 tấn xoài. Toàn bộ diện tích này trồng giống xoài keo đạt chuẩn, trái từ 300g trở lên. Dự kiến thời gian thu hoạch toàn bộ diện tích xoài từ ngày 15 đến 25/10.
“Sản lượng xoài đạt chất lượng cao, nhưng nếu không có mã số vùng trồng để xuất khẩu, toàn bộ nông sản bắt buộc phải quay đầu tiêu thụ tại thị trường nội địa hoặc đưa về các chợ đầu mối truyền thống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu có mã số vùng trồng để xuất khẩu, giá xoài keo đạt chuẩn dao động khoảng 25.000 đồng/kg. Những ngày qua, khi thu hoạch, tôi phải mang đi bán hàng chợ nội địa với giá xoài chỉ 7.000-8.000 đồng/kg”, ông Lương Quốc Toản cho biết.
Trước thực trạng trên, ông Toản kiến nghị các cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ thẩm định, sớm tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục hành chính để kịp thời cấp mã số vùng trồng, giúp nông dân yên tâm thu hoạch và tiêu thụ nông sản đạt hiệu quả kinh tế cao.
Ông Nguyễn Hồng Vạn, Phó trưởng Phòng Kinh tế, Ủy ban nhân dân xã Bình Hàng Trung cho biết, trưa 9/10, Trung tâm Phục vụ hành chính công của xã có tiếp nhận hồ sơ của người nộp là ông Lương Quốc Toản với nội dung yêu cầu giải quyết: “Cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói”. Thời gian giải quyết hồ sơ theo quy định là 10 ngày, không tính ngày nghỉ.

Một vườn xoài khác của hộ ông Lương Quốc Toản đang cho thu hoạch. (Ảnh: HỮU NGHĨA)
“Hồ sơ của ông Lương Quốc Toản nộp hiện tại đang được rà soát theo quy trình. Hồ sơ vẫn chưa quá hạn, còn nằm trong thời hạn xử lý. Hồ sơ này liên quan Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Đây là Nghị quyết mới triển khai, các bước kiểm tra, hậu kiểm tra và thành lập tổ thẩm định đòi hỏi thời gian để bảo đảm đúng quy định. Ủy ban nhân dân xã đã làm đề nghị Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đến xã để hỗ trợ cho địa phương thẩm định cấp mã số vùng trồng theo Nghị quyết 36”, ông Nguyễn Hồng Vạn cho biết.
Được biết, ngày 31/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Đây được xem là bước đi mang tính đột phá nhằm cắt giảm tối đa chi phí, số hóa toàn diện quy trình và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào chuỗi sản xuất, xuất khẩu nông sản.
Theo Nghị quyết số 36, thời gian giải quyết các thủ tục hành chính được cắt giảm triệt để theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Đối với trường hợp không xuất khẩu đi thị trường có yêu cầu mã số, thì thời hạn giải quyết siêu tốc không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm ban hành thông báo cấp mã số, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp xuất khẩu đi thị trường có yêu cầu về mã số thì thời hạn giải quyết là không quá 10 ngày làm việc. Trong thời gian này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra thực tế tại thực địa (đánh giá thông tin kê khai và việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu) và ban hành thông báo cấp mã số. Đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý cho phía Việt Nam tự phê duyệt, hệ thống sẽ phê duyệt ngay mã số.

