Dòng tín dụng và kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới
2026 là năm bản lề triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng. Bài toán đặt ra không chỉ là tăng nhanh hơn, mà phải bền vững, lan tỏa sâu rộng hơn và tạo ra giá trị thực cho đất nước trên hành trình hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Theo định hướng đó, tín dụng sẽ tiếp tục ưu tiên cho sản xuất, chế biến - chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và doanh nghiệp nhỏ và vừa - những 'động cơ' của tăng trưởng thực chất. Song song với tăng cung ứng vốn cho nền kinh tế, NHNN luôn yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt rủi ro, thẩm định kỹ hiệu quả dự án và dòng tiền, hạn chế vốn chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao hoặc không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, công tác điều hành tiền tệ - tín dụng luôn bán sát thực tiễn, tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh
Điều hành tín dụng linh hoạt, hướng vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững
Năm 2025 khép lại với nhiều gam màu đan xen khi kinh tế thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, nhiều cú sốc vượt ngoài dự báo; dư âm của đại dịch Covid-19 còn kéo dài; căng thẳng địa chính trị và xu hướng thắt chặt – nới lỏng chính sách tiền tệ đan xen tại các nền kinh tế lớn. Trong nước, nền kinh tế có độ mở cao chịu ảnh hưởng rõ nét từ các biến động bên ngoài, trong khi khó khăn nội tại và tác động của thiên tai, bão lũ vẫn hiện hữu.
Bối cảnh trên đặt ra nhiều thách thức đối với điều hành chính sách. Bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, các giải pháp tiền tệ và tín dụng được triển khai đồng bộ nhằm thực hiện đồng thời các mục tiêu: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống và hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Ngay từ đầu năm 2025, NHNN đã chủ động giao chỉ tiêu tín dụng cho các ngân hàng trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 16% (có điều chỉnh theo tình hình thực tế); thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc cụ thể, bảo đảm công khai và minh bạch nhưng linh hoạt, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Song song với đó, khuôn khổ pháp lý về tín dụng tiếp tục được rà soát, hoàn thiện, bảo đảm đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận vốn.
Bên cạnh hoàn thiện thể chế, công tác chỉ đạo, điều hành tín dụng được tăng cường; Đặc biệt các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan. Thống kê của NHNN cho thấy, các giải pháp này đã tạo điều kiện cho khoảng 1,3 triệu khách hàng được cơ cấu nợ với giá trị nợ gốc và lãi xấp xỉ 1 triệu tỷ đồng, riêng trong giai đoạn dịch Covid-19, các TCTD đã giảm lãi cho khách hàng với tổng số tiền khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của tình hình bão lũ trong năm 2025, để đảm bảo dòng vốn cho nền kinh tế được thông suốt, NHNN kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và NHNN Khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.
Cùng với đó, các chương trình tín dụng theo ngành, lĩnh vực được triển khai quyết liệt và ngày càng đi vào chiều sâu. Nhiều chương trình cho thấy hiệu quả rõ nét. Đơn cử, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản ban đầu có quy mô 15.000 tỷ đồng đã được ngân hàng nâng lên 185.000 tỷ đồng. Một số chương trình khác như cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách... đều được các TCTD tích cực triển khai.
Không chỉ từ phía cơ quan điều hành, TCTD đã chủ động đẩy mạnh vốn vào các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Chủ tịch HĐQT VietinBank Trần Minh Bình cho biết, để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2025, VietinBank đã chủ động triển khai kế hoạch tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia. Ngân hàng cũng triển khai các gói sản phẩm linh hoạt dành cho doanh nghiệp, trong đó chú trọng phân khúc doanh nghiệp FDI…
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt kết quả tích cực cả về quy mô lẫn cơ cấu. Tính đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024 - mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Qua đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng GDP năm 2025 của đất nước đạt 8,02%. Việt Nam là một trong những điểm sáng hiếm hoi của kinh tế châu Á trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều bất định.

“Chia lửa” với ngân hàng
Cùng với những kết quả tích cực trên, việc giữ vai trò là kênh cung ứng chủ lực (cả vốn ngắn hạn lẫn trung dài hạn) luôn là thách thức đối với hệ thống ngân hàng. Nhất là khi nhu cầu vốn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia trong giai đoạn tới rất lớn, tạo áp lực ngày càng rõ lên hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn. Đề cập vấn đề này, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) Phạm Chí Quang cho biết, không chỉ tốc độ huy động vốn đang tăng chậm hơn tín dụng khoảng 3%, mà cơ cấu huy động và cho vay hiện nay cũng bộc lộ nhiều bất cập. Cụ thể, khoảng 80% vốn huy động là ngắn hạn trong khi khoảng 50% dư nợ cho vay là trung, dài hạn khiến rủi ro kỳ hạn luôn hiện hữu đối với các ngân hàng. Trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/GDP hiện đã đạt khoảng 146% - mức cao nhất trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam.
TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam bày tỏ lo ngại khi việc phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng có thể tạo ra những rủi ro về mất cân đối vĩ mô, ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng vốn. Chính vì vậy, một yêu cầu lớn đặt ra trong giai đoạn tới là giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường vốn tương xứng với tiềm năng, thúc đẩy các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Vốn ngân hàng sẽ tập trung vào các nhu cầu vốn ngắn và trung hạn phục vụ sản xuất – kinh doanh; trong khi thị trường vốn đảm nhiệm vai trò cung ứng vốn dài hạn cho các dự án đầu tư lớn. Sự phối hợp hài hòa này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội, mà còn giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng và tăng tính bền vững cho nền kinh tế.
Khi tín dụng được “bơm” đúng địa chỉ, hiệu quả lan tỏa rất rõ nét. Nhiều doanh nghiệp sản xuất tận dụng được vốn vay để đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đặc biệt, tín dụng xanh và tín dụng cho chuyển đổi số đang dần trở thành xu hướng rõ nét, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.
Có thể thấy, dòng tín dụng ngân hàng đang vận hành trong một tâm thế mới: thận trọng hơn, chọn lọc hơn nhưng hiệu quả và lan tỏa sâu hơn. Đây không chỉ là yêu cầu của điều hành chính sách, mà còn là lựa chọn tất yếu của một nền kinh tế đang chuyển sang giai đoạn phát triển dựa trên chất lượng và hiệu quả. Trong dòng chảy đó, việc phân bổ vốn hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững của đất nước trong chặng đường phía trước.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/dong-tin-dung-va-ky-vong-chu-ky-tang-truong-moi-177837.html












