Du lịch di sản Hà Nội: Sức mạnh mềm trong dòng chảy đối ngoại

Những năm gần đây, các hoạt động đối ngoại cấp cao ngày càng chú trọng yếu tố văn hóa, từ việc lựa chọn địa điểm đón tiếp, xây dựng chương trình tham quan đến giới thiệu nghệ thuật truyền thống, ẩm thực và sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Chính quá trình này đã giúp du lịch di sản của Thủ đô trở thành một thành tố quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia, đóng góp vào việc nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế của Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung trên trường quốc tế.

Phu nhân Thủ tướng Việt Nam đã cùng Phu nhân Thủ tướng các nước Lào, Campuchia và Thái Lan tới tham quan, trải nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong khuôn khổ tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026. Ảnh: Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao

Phu nhân Thủ tướng Việt Nam đã cùng Phu nhân Thủ tướng các nước Lào, Campuchia và Thái Lan tới tham quan, trải nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong khuôn khổ tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026. Ảnh: Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao

Những chuyến thăm để lại dấu ấn

Bản đồ đối ngoại những năm qua ghi dấu những khoảnh khắc mang tính biểu tượng cao, như hình ảnh Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung cùng phu nhân Kim Hye Kyung bình thản dạo bộ quanh hồ Gươm, thưởng thức phở Hà Nội và kem Thủy Tạ. Những trải nghiệm bình dị, nhưng đậm chất Hà Nội này nhanh chóng lan tỏa trên mạng xã hội toàn cầu. Khi người đứng đầu một quốc gia tự nguyện trở thành người giới thiệu hình ảnh cho một thành phố, lan tỏa cảm xúc chân thực đến công chúng, đó là thứ sức mạnh truyền thông tự nhiên, mà không hình thức quảng bá du lịch nào có thể thay thế.

Sự kết nối mang tính biểu tượng này, không chỉ dừng lại ở các hoạt động bên lề của các nguyên thủ, mà còn mở rộng sang các chương trình giao lưu văn hóa của các phu nhân trong các chuyến thăm song phương hay tại các diễn đàn đa phương. Chẳng hạn, tại Diễn đàn tương lai ASEAN gần đây, trong không gian di sản Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hình ảnh các phu nhân cùng nhau lắng nghe câu chuyện về đạo học, rồi tự tay vẽ họa tiết lên chiếc nón lá truyền thống đã tạo nên một điểm nhấn văn hóa sâu sắc. Chiếc nón lá mộc mạc đã trở thành phương tiện biểu đạt sự tương đồng, gắn kết văn hóa giữa các quốc gia láng giềng trong khu vực. Những khoảnh khắc đồng điệu rạng rỡ đó, chính là minh chứng cho thấy di sản và nghệ thuật dân gian có một thứ ngôn ngữ riêng để kết nối con người một cách tự nhiên nhất.

Sức lan tỏa đó đã và đang phản ánh vào thực tế của du lịch Hà Nội. Năm 2025, Thủ đô đón hơn 33,7 triệu lượt khách với doanh thu hơn 134.000 tỷ đồng; khách quốc tế tăng trưởng ấn tượng, Hà Nội liên tiếp được World Travel Awards vinh danh “Điểm đến thành phố hàng đầu châu Á”. Những danh hiệu và con số đó không tự nhiên mà có, đó là kết quả của nhiều năm Hà Nội xây dựng hình ảnh qua từng chuyến thăm ngoại giao, từng khoảnh khắc một vị nguyên thủ đứng trước thềm điện Kính Thiên hay một nhà lãnh đạo ngồi ăn phở giữa phố cổ...

Di sản như ngôn ngữ ngoại giao

Tiến sĩ Nguyễn Phương Hòa, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - người trực tiếp tham gia hoạch định chiến lược văn hóa đối ngoại đánh giá: “Việt Nam đang từng bước chuyển đổi tư duy từ việc “giới thiệu những gì mình có” sang “kể câu chuyện về đất nước thông qua di sản” - một phương thức quảng bá mang chiều sâu lịch sử, thấm đẫm các giá trị văn hiến. Đây cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi, sử dụng du lịch di sản như một công cụ gia tăng sức hấp dẫn và sức mạnh mềm quốc gia.

Du lịch di sản, du lịch văn hóa đang dần trở thành một “ngôn ngữ đối ngoại” giàu sức hấp dẫn, giúp bạn bè quốc tế hiểu sâu hơn về lịch sử, bản sắc, khát vọng phát triển và những giá trị mà Việt Nam theo đuổi. Những trải nghiệm trực tiếp tại các không gian di sản thường tạo ra dấu ấn khó quên, góp phần chuyển hóa sự yêu mến đối với văn hóa và con người Việt Nam thành sự đồng cảm, ủng hộ và mong muốn hợp tác với đất nước Việt Nam”.

Đánh giá về cách Hà Nội đang sử dụng di sản trong công tác đối ngoại, Tiến sĩ Nguyễn Phương Hòa cho rằng: “Điều đáng ghi nhận là Hà Nội đang nỗ lực đổi mới cách kể chuyện di sản thông qua việc ứng dụng công nghệ và phát triển các sản phẩm trải nghiệm sáng tạo, góp phần đưa những giá trị lịch sử đến gần hơn với công chúng đương đại. Các chương trình như “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay tour đêm “Giải mã Hoàng thành Thăng Long” là những ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận này”.

Tuy nhiên, để hiệu ứng ngoại giao thực sự chuyển hóa thành hiệu quả phát triển du lịch, theo các chuyên gia, cần có sự chung tay của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành, giới truyền thông và cộng đồng địa phương nhằm xây dựng thêm nhiều sản phẩm du lịch di sản độc đáo, mang lại những trải nghiệm đặc sắc cho du khách.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh truyền thông một cách chuyên nghiệp, tận dụng thế mạnh của các nền tảng số để những hình ảnh, câu chuyện từ các chuyến thăm cấp cao và hoạt động ngoại giao văn hóa tại các điểm di sản có thể lan tỏa rộng rãi tới công chúng toàn cầu. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Văn hóa, Du lịch và Đối ngoại sẽ giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Khi đó, các giá trị di sản không chỉ được gìn giữ, mà còn được tái sinh trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch bền vững, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế - xã hội, lan tỏa sức mạnh mềm và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Phương Bùi

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/du-lich-di-san-ha-noi-suc-manh-mem-trong-dong-chay-doi-ngoai-1208428.html