Đưa công nghệ vào bài học và đời sống
Tại TP Hồ Chí Minh, thư viện số giúp học sinh mở rộng cách tiếp cận tri thức, còn các dự án nghiên cứu đưa các em đến với những vấn đề như bụi gỗ, tiết kiệm năng lượng hay an toàn giao thông. Từ những môi trường học tập này, học sinh được rèn khả năng đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin và tìm giải pháp cho đời sống.
Mở cánh cửa tri thức từ thư viện số
Tại Trường Tiểu học - THCS An Lạc, phường An Lạc, học sinh có thể tìm hiểu lịch sử qua văn bản, phim tư liệu, không gian mô phỏng; nghe những làn điệu ru của ba miền và khám phá di tích bằng công nghệ thực tế ảo. Những trải nghiệm này được thực hiện qua thư viện số S-Gallery.
Trong giai đoạn 3, An Lạc là địa phương đầu tiên triển khai S-Gallery tại toàn bộ trường học trên địa bàn. Qua hai giai đoạn trước, mô hình đã có mặt tại 50 trường, giúp hàng chục nghìn học sinh tiếp cận học liệu và tư liệu văn hóa số.
Điểm đáng chú ý nằm ở cách tư liệu được đưa vào hoạt động học tập. Giáo viên có thể lựa chọn hình ảnh, âm thanh hoặc phim để minh họa bài giảng, tổ chức giờ học mở, hoạt động trải nghiệm và chiếu phim vào giờ ra chơi. Nhờ đó, thư viện số không đứng tách biệt như một kho dữ liệu mà trở thành một phần của quá trình dạy và học.
Cùng với S-Gallery, các trường được bổ sung Không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Nội dung về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chia thành những chủ đề trực quan, phù hợp với từng độ tuổi. Nguồn tư liệu còn mở rộng sang nghệ thuật dân gian, phong tục, di sản và văn hóa các vùng miền.
Khi nội dung được thể hiện bằng nhiều định dạng, học sinh có thể bắt đầu từ hình ảnh, tiếp tục tra cứu văn bản rồi trao đổi với giáo viên, bạn học. Cách tiếp cận này tạo thêm lựa chọn thay vì chỉ ghi nhớ dữ kiện.
Bà Lê Thị Thùy Trang, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học - THCS An Lạc, cho rằng tri thức hiện được truyền tải bằng nhiều phương thức, trong đó các nền tảng số ngày càng phổ biến. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng học liệu, nhà trường phải hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ an toàn, có mục đích và phù hợp với nội dung học tập.

Không gian thư viện với những thiết bị công nghệ giúp các em học sinh dễ dàng tra cứu thông tin.
Theo ông Lê Trương Hải Hiếu, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường An Lạc, thiết bị chỉ phát huy hiệu quả khi giáo viên biết khai thác học liệu và học sinh chủ động học tập.
Việc đưa công nghệ vào trường học vì thế là bước khởi đầu. Nếu học sinh chỉ xem nội dung hoặc nhận câu trả lời có sẵn, thiết bị hiện đại chưa chắc tạo ra thay đổi trong cách học. Giáo viên còn phải thiết kế câu hỏi, giao nhiệm vụ tìm kiếm, yêu cầu học sinh so sánh nguồn tư liệu và giải thích cách lựa chọn thông tin.
Yêu cầu này càng cần thiết khi trí tuệ nhân tạo có thể tạo câu trả lời rất nhanh nhưng kết quả không phải lúc nào cũng đầy đủ, chính xác. Khả năng đặt câu hỏi, kiểm chứng và chịu trách nhiệm với thông tin mình sử dụng trở thành một phần của năng lực công nghệ. Từ biết tìm kiếm tri thức, học sinh cần được bước ra thực tế, quan sát vấn đề và thử vận dụng những điều đã học để tìm lời giải.
Từ ý tưởng công nghệ đến giải pháp cho đời sống
Nếu thư viện số tạo nền tảng tri thức, các sân chơi nghiên cứu mở ra môi trường vận dụng. Bách Khoa Innovation 2026 kết nối người học, nhóm khởi nghiệp, trường đại học và doanh nghiệp phát triển dự án.
Cuộc thi thu hút 408 dự án, gấp đôi năm 2025; trong đó có 38 dự án quốc tế. Ban tổ chức lựa chọn 57 dự án vào vòng chung kết, gồm 10 dự án của học sinh THPT, 19 dự án sinh viên, 10 dự án khởi nghiệp; các dự án còn lại tham gia nhóm giải quyết những bài toán do doanh nghiệp đặt ra.
Một trong 10 dự án thuộc khối THPT là nghiên cứu xử lý bụi gỗ của nhóm 5C4B. Dự án xuất phát từ thực tế nhiều xưởng sản xuất nhỏ khó đầu tư hệ thống xử lý bụi công nghiệp công suất lớn do hạn chế về chi phí và mặt bằng. Từ bài toán này, nhóm tìm hướng xây dựng giải pháp phù hợp hơn với điều kiện vận hành tại các cơ sở.
Nhóm 5C4B quy tụ học sinh đến từ nhiều trường, gồm Nguyễn Hải Yến, Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, tỉnh An Giang; Nguyễn Thảo My và Võ Ngọc Bảo Thy, Trường Phổ thông Năng khiếu, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Quỳnh Anh, Trường THPT Đinh Thiện Lý và Nguyễn Hải Anh, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.

Các em học sinh, sinh viên thuyết trình về những giá trị ứng dụng thực tiễn của dự án.
Qua khảo sát nơi sản xuất, các thành viên tìm hiểu nhu cầu và cân nhắc diện tích xưởng, chi phí đầu tư, khả năng vận hành. Từ chỗ tìm công nghệ để đưa vào sản phẩm, các em chuyển sang xác định vấn đề người dùng thực sự cần giải quyết.
Nhóm tiếp nhận phản biện, điều chỉnh phương án và kiểm chứng giả định. Dù chưa tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, quá trình thử nghiệm và sửa sai giúp học sinh làm quen với tư duy nghiên cứu.
Cách tiếp cận này còn xuất hiện ở các dự án truy xuất nguồn gốc dược liệu, hỗ trợ người khuyết tật, bảo đảm an toàn giao thông và theo dõi phát thải carbon. Ở nhóm trường đại học - doanh nghiệp, đề bài tập trung vào tiết kiệm năng lượng, tái chế nhựa và năng lượng tái tạo.

Từ những dự án được ươm mầm, các em học sinh được hỗ trợ để ý tưởng trở thành giải pháp thực tế có ích trong đời sống.
GS.TS Huỳnh Kỳ Phương Hạ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa - ĐHQG TP Hồ Chí Minh, cho rằng, giá trị của cuộc thi nằm cả ở quá trình nhận phản hồi, thử nghiệm và điều chỉnh giải pháp. Người học cần kiên trì, bảo đảm tính trung thực khoa học và trách nhiệm với cộng đồng.
Thư viện số và sân chơi nghiên cứu vì thế không tách rời. Học liệu số cung cấp kiến thức, còn khảo sát thực tế giúp học sinh nhận ra giới hạn của thông tin trên màn hình và chuyển từ tiếp nhận sang vận dụng.
Theo ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh, năm học 2026 - 2027, ngành Giáo dục Thành phố tiếp tục ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, chú trọng cá thể hóa quá trình học tập.
Trong định hướng này, hoạt động nghiên cứu khoa học, STEM/STEAM và khởi nghiệp của học sinh được gắn với những vấn đề cụ thể của TP Hồ Chí Minh như môi trường, giao thông, đô thị xanh và tự động hóa. Khi trực tiếp khảo sát, thử nghiệm và điều chỉnh giải pháp, các em không chỉ rèn kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn học phương pháp nghiên cứu, tính trung thực, ý thức bảo vệ dữ liệu, tôn trọng bản quyền và trách nhiệm đối với sản phẩm mình tạo ra.
Việc kết nối học liệu số trong nhà trường với những bài toán từ thực tế cũng mở ra một cách nhìn đầy đủ hơn về chuyển đổi số giáo dục. Hiệu quả không chỉ thể hiện ở số thiết bị được trang bị, kho học liệu được xây dựng hay cuộc thi được tổ chức mà còn ở khả năng học sinh khai thác tri thức, nhận diện đúng vấn đề và lựa chọn công nghệ phù hợp để giải quyết.
Từ những giờ học trong thư viện số đến quá trình khảo sát tại xưởng sản xuất, công nghệ dần trở thành công cụ để học sinh quan sát, đặt câu hỏi và kiểm chứng ý tưởng. Khi được học và trải nghiệm theo cách này, các em có thêm nền tảng để chủ động trong học tập, từng bước biến kiến thức thành những giải pháp có ích cho đời sống.
