Trí tuệ nhân tạo và việc làm: Lời tiên tri chưa ứng nghiệm

Gần bốn năm sau khi ChatGPT xuất hiện, đã có đủ thời gian để đối chiếu những lời tiên đoán với thực tế. Từng có không ít dự báo rằng lực lượng lao động tri thức sẽ sớm bị công nghệ thay thế.

Một khách hàng tự đảm nhận toàn bộ khâu thanh toán, phần việc trước đây thuộc về nhân viên thu ngân. Ảnh: Hương Giang - PV TTXVN tại Anh

Một khách hàng tự đảm nhận toàn bộ khâu thanh toán, phần việc trước đây thuộc về nhân viên thu ngân. Ảnh: Hương Giang - PV TTXVN tại Anh

Nhưng nhìn vào số liệu của hai trong những thị trường lao động được theo dõi sát sao nhất thế giới, điều đáng suy nghĩ là cho đến lúc này, dữ liệu gần như chưa xác nhận lời tiên tri ấy.

Ở nước Mỹ, câu chuyện thậm chí đi ngược lại nỗi lo. The Economist ước tính Trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo ra khoảng một triệu việc làm mới, vượt xa con số chừng 200.000 vị trí bị cắt giảm được quy cho công nghệ này kể từ giữa năm 2023. Động lực tạo ra số việc làm ấy không nằm ở bản thân các mô hình AI, mà ở cơn bùng nổ xây dựng hạ tầng để vận hành chúng.

Theo tính toán của ngân hàng Goldman Sachs, chi tiêu cho các thiết bị cần thiết cho AI - từ chip, máy chủ đến trung tâm dữ liệu, hệ thống làm mát và điện năng - hiện cao hơn khoảng 500 tỷ USD mỗi năm so với năm 2022, thời điểm thế giới bắt đầu biết đến ChatGPT. Những trung tâm dữ liệu mọc lên kéo theo cả một đội ngũ thợ điện và kỹ thuật viên. Riêng 5 ngành gắn với làn sóng xây dựng ấy đã có thêm khoảng 320.000 việc làm, nhiều hơn hẳn so với mức tăng thông thường của ngành xây dựng và chế tạo. "Cho đến nay, các bằng chứng cho thấy AI là một nhân tố tạo việc làm ròng", ông Kory Kantenga, phụ trách kinh tế khu vực châu Mỹ tại LinkedIn, nhận định.

Nước Anh là một hình ảnh khác, nhưng lại dẫn đến kết luận đồng điệu một cách bất ngờ. Báo cáo của tổ chức nghiên cứu Centre for British Progress, sau khi rà soát dữ liệu của 412 nhóm nghề do Cơ quan Thống kê Quốc gia Anh (ONS) khảo sát, không tìm thấy khác biệt nào về việc làm giữa những nghề chịu tác động nhiều nhất và ít nhất từ AI. Phần tóm lược của báo cáo đã gói trọn phát hiện đó: chưa hề thấy dấu hiệu nào của làn sóng thay thế lao động tri thức ấy trong dữ liệu việc làm của Anh.

Sự tương phản giữa một nền kinh tế đang tạo thêm việc làm và một nền kinh tế chưa để lộ tín hiệu nào, xét cho cùng, không phải mâu thuẫn. Nó được lý giải bằng hoàn cảnh: nước Mỹ có cơn sốt xây dựng hạ tầng để hấp thụ lao động, nước Anh thì không. Nhưng bên dưới hai bức tranh ấy là một điểm chung cốt lõi - ở cả hai nơi, chưa hề có làn sóng sa thải hàng loạt lao động tri thức như từng được cảnh báo.

Có một điều tinh tế hơn, và cũng dễ bị bỏ qua: cùng một mức độ tiếp xúc với công nghệ có thể dẫn đến những số phận trái ngược. Ở Anh, kể từ năm 2021, số chuyên viên phân tích nghiệp vụ công nghệ thông tin tăng 38%, lập trình viên tăng 18%, trong khi nhân viên tổng đài giảm 19% và nhân viên bán hàng qua điện thoại giảm 23%. Bức tranh ở Mỹ cũng có đường nét tương tự: trong giai đoạn 2023-2025, trợ lý pháp lý tăng khoảng 11%; còn thư ký và trợ lý hành chính đã giảm khoảng 15% kể từ tháng 1/2023.

Những quầy thu ngân bỏ trống, băng chuyền dừng, ghế ngồi không còn người. Khi khách dồn sang các điểm tự phục vụ, đây là hình ảnh trực quan của những vị trí việc làm đang mất dần. Ảnh: Hương Giang - PV TTXVN tại Anh

Những quầy thu ngân bỏ trống, băng chuyền dừng, ghế ngồi không còn người. Khi khách dồn sang các điểm tự phục vụ, đây là hình ảnh trực quan của những vị trí việc làm đang mất dần. Ảnh: Hương Giang - PV TTXVN tại Anh

Điều báo cáo của Centre for British Progress chỉ ra là mức độ tiếp xúc với công nghệ, tự nó, chưa đủ để dự đoán chiều hướng tác động lên một nghề. Yếu tố làm nên khác biệt, có lẽ, nằm ở chỗ cấu trúc công việc nghiêng về phía được công nghệ hỗ trợ hay bị công nghệ thay thế. AI nâng đỡ người phân tích, người soạn thảo, người phải phán đoán, nhưng nó lại rút đi những phần việc thuần lặp lại. Cùng một công cụ, khác nhau ở chỗ nó được đặt vào bàn tay nào.

Bởi vậy, sự vắng mặt của một tín hiệu rõ ràng hôm nay không bảo đảm điều gì cho ngày mai. Lịch sử công nghệ cho thấy điều đó qua chính sự chậm rãi của mình. Nhà sử học kinh tế Paul David từng chỉ ra rằng điện năng phải mất khoảng bốn thập niên mới in dấu rõ ràng lên năng suất chế tạo. Còn nhà kinh tế Robert Solow, vào năm 1987, nhận xét rằng người ta có thể nhìn thấy kỷ nguyên máy tính ở khắp nơi, trừ trong các thống kê năng suất. Những công nghệ làm thay đổi sâu sắc nhất đời sống con người thường để lại dấu vân tay muộn màng nhất trên các con số. Và dấu vân tay ấy có thể hiện ra ở nơi ít ai ngờ nhất. Báo cáo của Centre for British Progress chỉ ra một điểm dễ tổn thương: nếu công nghệ được ứng dụng mạnh vào đúng những nhóm nghề từng là động lực tạo việc làm của nước Anh kể từ thập niên 2010 - như dịch vụ chuyên môn, phần mềm, phân tích dữ liệu - thì chính những nhóm nghề đó có thể trở thành nơi hứng chịu một đợt thay thế lao động quy mô lớn.

Giữa hai thái cực - sự hân hoan của những người tin công nghệ sẽ giải quyết tất cả và nỗi lo sợ của những người tin công nghệ sẽ lấy đi tất cả - thái độ đúng mực hơn cả là sự điềm tĩnh của người quan sát: đọc kỹ những con số đang có, và không vội kết luận từ những con số chưa có. Bài học lặp lại qua mọi làn sóng công nghệ là những xã hội trụ vững nhất không phải những xã hội đoán trúng tương lai, mà là những xã hội biết chuẩn bị cho người lao động của mình: trang bị kỹ năng, bồi đắp khả năng thích ứng, và dịch chuyển lao động từ những phần việc đang co lại sang những phần việc đang mở ra.

Hương Giang/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/tri-tue-nhan-tao-va-viec-lam-loi-tien-tri-chua-ung-nghiem/436552.html