Đưa khoa học và công nghệ về cơ sở: Từ chuyển giao công nghệ đến kiến tạo sinh kế
Sau 10 năm triển khai, Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 (Chương trình Nông thôn miền núi) đã góp phần đưa những kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm, đến với đồng ruộng, trang trại và doanh nghiệp. Từ những mô hình cụ thể, khoa học và công nghệ không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn tạo sinh kế bền vững, mở ra cách tiếp cận mới trong phát triển nông thôn.

Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình Nông thôn miền núi. Ảnh: PV
Khoa học và công nghệ bắt đầu từ những cánh đồng
Mười năm trước, câu chuyện ở nhiều vùng nông thôn, miền núi vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, năng suất thấp và đầu ra bấp bênh. Hôm nay, trên những cánh đồng khoai tây ở Nam Định, các trại ong tại Vĩnh Phúc hay vùng trồng dược liệu ở nhiều địa phương miền núi, khoa học và công nghệ đã hiện diện trong từng khâu sản xuất, bảo quản và chế biến, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sinh kế ổn định cho người dân.
Đó cũng là những minh chứng rõ nét cho hiệu quả của Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì triển khai.
Là doanh nghiệp trực tiếp tham gia Chương trình, ông Nguyễn Văn Thủy, Giám đốc Công ty TNHH MTV Minh Dương cho biết, trước đây việc trồng khoai tây tại Nam Định chủ yếu diễn ra theo quy mô nhỏ lẻ, người dân tự để giống, năng suất không ổn định, trong khi đầu ra phụ thuộc vào thương lái. Mỗi vụ thu hoạch đều đối mặt với nỗi lo “được mùa mất giá”, đặc biệt khi điều kiện bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế.
Bước ngoặt đến khi doanh nghiệp được hỗ trợ triển khai dự án ứng dụng công nghệ mới trong trồng, bảo quản và chế biến khoai tây theo mô hình liên kết chuỗi giá trị. Không chỉ tiếp nhận giống khoai tây sạch bệnh và quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, doanh nghiệp còn đầu tư hệ thống bảo quản, chế biến hiện đại, từng bước hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Nguyễn Văn Thủy, điều quan trọng nhất mà dự án mang lại không chỉ là năng suất tăng hay sản phẩm được chế biến sâu, mà là sự thay đổi trong cách tổ chức sản xuất. Doanh nghiệp và nông dân không còn sản xuất riêng lẻ mà cùng tham gia một chuỗi liên kết, trong đó doanh nghiệp chủ động về giống, kỹ thuật, chế biến và thị trường, còn người dân yên tâm sản xuất vì có đầu ra ổn định. Từ nền tảng đó, doanh nghiệp đã phát triển nhiều sản phẩm chế biến từ khoai tây, trong đó có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình Nông thôn miền núi. Ảnh: PV
Nếu câu chuyện ở Nam Định cho thấy khoa học và công nghệ có thể nâng cao giá trị nông sản thông qua chế biến sâu thì tại Vĩnh Phúc, hiệu quả của Chương trình lại được thể hiện ở việc giúp doanh nghiệp làm chủ công nghệ và phát triển bền vững sau khi dự án kết thúc.
Bà Lê Thị Nga, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Ong Tam Đảo, cho biết trước khi tham gia Chương trình, hoạt động nuôi ong của doanh nghiệp và các hộ liên kết còn phân tán, quy trình sản xuất chưa đồng bộ, chất lượng sản phẩm thiếu tính ổn định. Sau khi tiếp nhận các quy trình công nghệ về nuôi ong, bảo quản và chế biến sản phẩm, doanh nghiệp từng bước xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định, hình thành chuỗi liên kết với các hộ nuôi ong từ khâu chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ con giống đến bao tiêu sản phẩm.
Hiệu quả của dự án không chỉ thể hiện ở năng suất và doanh thu tăng lên, mà còn ở khả năng phát triển lâu dài sau khi nhiệm vụ khoa học và công nghệ kết thúc. Trên nền tảng công nghệ đã làm chủ, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển thêm nhiều sản phẩm đạt chứng nhận OCOP và đưa sản phẩm vào các thị trường có yêu cầu cao. Theo bà Lê Thị Nga, giá trị lớn nhất mà Chương trình mang lại là tạo nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục đổi mới, còn người nuôi ong có thêm thu nhập và gắn bó lâu dài với nghề.
Không chỉ tạo động lực cho doanh nghiệp, Chương trình còn góp phần đưa các kết quả nghiên cứu đến những vùng còn nhiều khó khăn. Theo bà Phan Thúy Hiền, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu, thông qua các dự án triển khai tại nhiều địa phương, các quy trình kỹ thuật về nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản dược liệu đã được chuyển giao tới cơ sở, góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung và từng bước phát triển chuỗi giá trị dược liệu.
Đi cùng với chuyển giao công nghệ là hoạt động đào tạo kỹ thuật viên và tập huấn cho nông dân, giúp người dân từng bước thay đổi tập quán sản xuất, chuyển từ làm theo kinh nghiệm sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng. Theo bà Phan Thúy Hiền, khi người dân làm chủ kỹ thuật, nhiều loại cây dược liệu có giá trị kinh tế đã trở thành sinh kế mới ở không ít địa phương miền núi.

Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình Nông thôn miền núi. Ảnh: PV
Ba câu chuyện ở ba lĩnh vực khác nhau nhưng cùng phản ánh một điểm chung: khoa học và công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi xuất phát từ nhu cầu của địa phương và được chuyển giao đến đúng đối tượng. Từ việc giúp doanh nghiệp làm chủ công nghệ, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất đến thay đổi tư duy canh tác của người dân, Chương trình đã tạo ra những mô hình có khả năng tự phát triển sau khi kết thúc nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Thực tế đó cũng được phản ánh qua những kết quả của Chương trình trong giai đoạn 2016-2025. Hàng trăm dự án đã được triển khai trên phạm vi cả nước, hình thành hàng nghìn mô hình ứng dụng và quy trình công nghệ mới, góp phần nâng cao giá trị sản xuất, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại cơ sở và tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, đằng sau những mô hình thành công ấy không chỉ là nỗ lực của từng doanh nghiệp hay địa phương. Điều đáng chú ý hơn là cách Chương trình được thiết kế và tổ chức thực hiện, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò điều phối, kết nối các nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương để những kết quả nghiên cứu thực sự đi vào cuộc sống. Đó cũng là yếu tố tạo nên sự khác biệt của Chương trình trong gần một thập kỷ qua.
Từ những mô hình đến cơ chế phát triển bền vững
Nếu như các mô hình ở Nam Định, Vĩnh Phúc hay nhiều địa phương miền núi cho thấy khoa học và công nghệ có thể tạo ra những thay đổi rõ rệt trong sản xuất thì thực tiễn triển khai cũng đặt ra một câu hỏi: Điều gì giúp các mô hình không chỉ thành công trong thời gian thực hiện dự án mà còn tiếp tục phát huy hiệu quả sau khi nguồn hỗ trợ của Nhà nước kết thúc?

Ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo. Ảnh: PV
Theo ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ), điểm khác biệt của Chương trình Nông thôn miền núi nằm ở cách tiếp cận. Thay vì hỗ trợ dàn trải hoặc chỉ chuyển giao từng quy trình kỹ thuật, các dự án đều được xây dựng từ nhu cầu thực tế của địa phương, lựa chọn những công nghệ phù hợp và tổ chức triển khai theo chuỗi liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân.
Nhờ cách làm đó, các công nghệ được chuyển giao không dừng lại ở khâu sản xuất mà bao trùm toàn bộ quá trình từ tạo giống, canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, phát triển dược liệu đến bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều công nghệ về nông nghiệp hữu cơ, công nghệ sinh học, tiết kiệm nước, thích ứng với biến đổi khí hậu, cơ giới hóa hay phát triển sản phẩm OCOP cũng được đưa vào thực tiễn, góp phần giải quyết những bài toán phát triển của từng địa phương.
Theo ông Chu Thúc Đạt, nguồn kinh phí của Chương trình không đơn thuần là khoản hỗ trợ từ ngân sách nhà nước mà còn đóng vai trò "vốn mồi", khuyến khích doanh nghiệp và địa phương cùng đầu tư đổi mới công nghệ. Cách làm này vừa nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, vừa tạo điều kiện để người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp cận trực tiếp với các thành tựu khoa học và công nghệ.
Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp ngày càng trở thành trung tâm của quá trình đổi mới. Thống kê từ Chương trình cho thấy hơn 70% số dự án do doanh nghiệp và hợp tác xã chủ trì. Điều đó phản ánh sự thay đổi trong tư duy triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ: Doanh nghiệp không còn là đơn vị tiếp nhận hỗ trợ mà trở thành hạt nhân liên kết với viện nghiên cứu, chính quyền địa phương và người dân để tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
Cùng với việc chuyển giao công nghệ, Chương trình còn chú trọng xây dựng đội ngũ nhân lực tại chỗ. Trong gần 10 năm triển khai, 551 dự án được thực hiện tại 34/34 tỉnh, thành phố, hình thành 1.426 mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ và chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ. Hơn 1.800 cán bộ quản lý, 4.000 kỹ thuật viên cơ sở cùng trên 82.700 lượt nông dân được đào tạo, tập huấn để tiếp nhận và làm chủ các công nghệ mới. Đây là nền tảng quan trọng giúp nhiều mô hình tiếp tục được duy trì, mở rộng sau khi dự án kết thúc.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định tham quan các gian hàng trưng bày các sản phẩm được hình thành từ Chương trình Nông thôn miền núi. Ảnh: PV
Đánh giá về kết quả đạt được, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng, giá trị lớn nhất của Chương trình không nằm ở số lượng dự án hay quy trình công nghệ được chuyển giao, mà ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với doanh nghiệp, người dân và chính quyền cơ sở.
Theo Thứ trưởng, các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đều ghi nhận mức tăng giá trị kinh tế bình quân trên 30% so với công nghệ trước đó; nhiều sản phẩm đã tham gia các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ bền vững, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Quan trọng hơn, Chương trình đã góp phần thay đổi tư duy triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là chuyển giao kỹ thuật thì nay mục tiêu đã chuyển sang giúp doanh nghiệp và địa phương làm chủ công nghệ, hình thành các chuỗi liên kết bền vững và từng bước xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngay từ cơ sở.
Đó cũng là định hướng mà Bộ Khoa học và Công nghệ xác định cho giai đoạn tiếp theo. Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, các chương trình hỗ trợ sẽ chuyển từ xây dựng mô hình sang giải quyết những bài toán phát triển của từng địa phương; từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đồng thời, hiệu quả của các nhiệm vụ sẽ không chỉ được đánh giá bằng số lượng mô hình hay quy trình công nghệ mà bằng khả năng tạo ra giá trị kinh tế, sức lan tỏa và mức độ đóng góp vào tăng trưởng của địa phương. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Nhìn lại gần một thập kỷ triển khai, có thể thấy Chương trình Nông thôn miền núi đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Từ những cánh đồng khoai tây được tổ chức lại theo chuỗi giá trị, những sản phẩm mật ong từng bước chinh phục thị trường quốc tế hay những vùng dược liệu hình thành ở miền núi, khoa học và công nghệ đã hiện diện trong từng mắt xích của quá trình sản xuất, tạo ra những giá trị thiết thực cho doanh nghiệp và người dân.
Giá trị lớn nhất mà Chương trình để lại không chỉ là hàng nghìn quy trình công nghệ hay hàng trăm mô hình ứng dụng, mà còn là một phương thức phát triển mới: Kết quả nghiên cứu phải bắt đầu từ yêu cầu của thực tiễn, được doanh nghiệp tiếp nhận, người dân làm chủ và địa phương chủ động nhân rộng. Chỉ khi đó, khoa học và công nghệ mới thực sự trở thành động lực của tăng trưởng và phát triển bền vững.








![[Interactive] SHB đang ở đâu khi muốn kể một câu chuyện mới?](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_01_358_55517717/97ed1b8546ceaf90f6df.jpg)





