Đưa pháp luật đến gần người dân bằng AI và nền tảng số

Sau gần 14 năm thực hiện, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đứng trước yêu cầu sửa đổi để theo kịp chuyển đổi số. Chuyên gia đề xuất ứng dụng AI, mạng xã hội nhưng nhấn mạnh công nghệ phải giúp người dân hiểu, dùng và bảo vệ quyền bằng pháp luật.

Sau gần 14 năm triển khai, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phương và tổ chức xã hội triển khai hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Tuy nhiên, chuyển đổi số, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội và các loại hình giao dịch mới đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách đưa pháp luật đến người dân.

Ông Nguyễn Quyết Chiến, Tổng Thư ký Liên hiệp hội, cho biết Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 sau hơn 14 năm triển khai đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ông Nguyễn Quyết Chiến, Tổng Thư ký Liên hiệp hội, cho biết Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 sau hơn 14 năm triển khai đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tại hội thảo góp ý Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội) tổ chức mới , các chuyên gia cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc bổ sung công nghệ vào luật. Ông Nguyễn Quyết Chiến, Tổng Thư ký Liên hiệp hội, cho biết Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 sau hơn 14 năm triển khai đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời khẳng định vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế, xã hội.

Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới mô hình quản trị quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với quá trình chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nhiều quy định của luật hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Việc sửa đổi luật được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để đổi mới phương thức phổ biến pháp luật, nâng cao hiệu quả tiếp cận thông tin pháp lý của người dân và doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Quyết Chiến, dự thảo luật lần này được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Luật năm 2012, đồng thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn phát triển mới. Hội thảo được tổ chức nhằm phát huy vai trò phản biện của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, đóng góp các luận cứ khoa học, thực tiễn để hoàn thiện dự án luật trước khi trình Quốc hội xem xét.

Quan trọng hơn là thay đổi cách tiếp cận: từ "phổ biến những gì cơ quan quản lý có" sang cung cấp những thông tin pháp luật người dân, doanh nghiệp thực sự cần và có thể sử dụng.

Luật tốt nhưng người dân không biết thì khó đi vào cuộc sống

TS.KH Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, cho rằng sửa Luật sau 14 năm là cần thiết trong bối cảnh thể chế phải liên tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển.

Theo ông, thực tế có những quy định pháp luật được xây dựng tốt nhưng hiệu quả thực thi chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân là công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được coi trọng đúng mức. Với nhiều nghề nghiệp, từ kỹ sư, kiến trúc sư đến bác sĩ, hiểu pháp luật liên quan trực tiếp đến tính chuyên nghiệp bởi người hành nghề phải biết quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

TS.KH Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, cho rằng sửa Luật sau 14 năm là cần thiết trong bối cảnh thể chế phải liên tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển.

TS.KH Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, cho rằng sửa Luật sau 14 năm là cần thiết trong bối cảnh thể chế phải liên tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển.

Từ góc độ kỹ thuật lập pháp, ông Khải đề nghị dự thảo tiếp tục được tinh gọn. Những quy định mang tính nguyên tắc phải ngắn, rõ và thể hiện tính bắt buộc, thay vì diễn giải dài hoặc trộn lẫn nguyên tắc với chính sách, phương thức thực hiện.

Chẳng hạn, những khái niệm như "nguồn lực tương xứng" hay "đối tượng đặc thù" nếu được đưa vào luật cần đủ rõ để tránh nhiều cách hiểu khác nhau. Theo ông, một nguyên tắc pháp luật phải có khả năng trở thành chuẩn mực để các chủ thể thực hiện chứ không nên là tập hợp nhiều giải pháp cụ thể.

Đáng chú ý, ông đề xuất tận dụng AI để thay đổi phương thức tiếp cận pháp luật.

Thay vì chỉ quy định chung về khuyến khích ứng dụng công nghệ, có thể nghiên cứu xây dựng hạ tầng số phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, tiến tới hệ thống trợ giúp pháp lý số quốc gia trên nền tảng AI. Hệ thống này có thể hỗ trợ tổ chức, cá nhân tra cứu, hỏi đáp, nhận cảnh báo rủi ro và tiếp cận nguồn thông tin pháp luật chính thống nhanh chóng, thuận tiện.

Đề xuất này càng đáng chú ý khi các rủi ro pháp lý mới liên tục xuất hiện trên môi trường số. Theo ông Khải, cơ quan quản lý cần có trách nhiệm cập nhật cảnh báo đối với thủ đoạn lừa đảo sử dụng công nghệ cao, rủi ro trong giao dịch điện tử, thương mại điện tử, tài chính số và những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Công nghệ không chỉ giúp "số hóa" tài liệu pháp luật. Giá trị lớn hơn là tạo một con đường ngắn hơn từ quy định đến người cần sử dụng quy định đó.

Công nghệ không chỉ giúp "số hóa" tài liệu pháp luật. Giá trị lớn hơn là tạo một con đường ngắn hơn từ quy định đến người cần sử dụng quy định đó.

Như vậy, công nghệ không chỉ giúp "số hóa" tài liệu pháp luật. Giá trị lớn hơn là tạo một con đường ngắn hơn từ quy định đến người cần sử dụng quy định đó.

Cần hình thành "tinh thần pháp luật"

Ở góc nhìn khác, chuyên gia PGS.TS Phạm Bích San cho rằng khoảng cách giữa tốc độ phát triển kinh tế - xã hội với nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Hạ tầng, công nghệ và phương thức giao dịch thay đổi nhanh, trong khi những hành vi vi phạm các quy tắc cơ bản vẫn xảy ra. Điều đó cho thấy phổ biến pháp luật không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng hội nghị, tài liệu hay chương trình đã tổ chức.

Theo ông San, dự thảo cần hạn chế các quy định mang nhiều tính mong muốn, chính sách chung mà thiếu cơ chế thực hiện cụ thể. Một đạo luật phải rõ ràng và khả thi.

Quan trọng hơn, giáo dục pháp luật không nên được hiểu là yêu cầu mỗi người phải nhớ một khối lượng lớn các điều khoản. Cần giúp người dân hình thành "tinh thần pháp luật" - hiểu những nguyên tắc pháp lý căn bản, quyền của mình, giới hạn của quyền lực, trách nhiệm của công dân và cách hành xử khi phát sinh vấn đề pháp lý.

Đây cũng là nền tảng để người dân có khả năng tự tìm kiếm và sử dụng những quy định cụ thể khi cần.

Trong điều kiện Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, phạm vi kiến thức pháp luật cần thiết cũng đang mở rộng. Doanh nghiệp xuất khẩu, đầu tư hoặc tham gia giao dịch xuyên biên giới không chỉ đối diện pháp luật Việt Nam mà còn phải hiểu những nguyên tắc và quy định quốc tế liên quan.

Ông San đồng thời đặt vấn đề về trách nhiệm của chính những người và cơ quan làm nhiệm vụ phổ biến pháp luật. Khi thông tin được truyền đạt không chính xác hoặc gây hiểu nhầm, cần có cơ chế xác định trách nhiệm.

Theo cách tiếp cận này, phổ biến pháp luật không đơn thuần là hoạt động tuyên truyền, mà phải trở thành một hoạt động chuyên môn có tiêu chuẩn về tính chính xác, khả năng kiểm chứng và trách nhiệm đối với thông tin được cung cấp.

Từ hội trường lên mạng xã hội

Một thay đổi đáng chú ý khác được các chuyên gia đề xuất là chuyển mạnh hoạt động phổ biến pháp luật sang môi trường số.

TS Trần Văn Miều cho rằng nên nghiên cứu bổ sung một quy định riêng về phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua mạng xã hội. Đây đã trở thành không gian tiếp nhận thông tin thường xuyên của đông đảo người dân, trong khi cách phổ biến truyền thống dựa nhiều vào hội nghị, lớp tập huấn hoặc các buổi tuyên truyền trực tiếp có giới hạn về phạm vi và nguồn lực.

Theo ông, mạng xã hội có ít nhất một số lợi thế lớn: thông tin có thể tập trung vào vấn đề người dân quan tâm; hình thức truyền tải đa dạng; tốc độ nhanh; khả năng tương tác hai chiều; đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí.

Thay vì người dân phải đến một địa điểm để nghe phổ biến pháp luật, nội dung có thể đến trực tiếp với họ qua điện thoại. Một thay đổi chính sách liên quan đến đất đai, giao thông, thuế hay bảo vệ người tiêu dùng có thể được chuyển thành nội dung ngắn, dễ hiểu và phát hành gần như ngay sau khi chính sách được ban hành.

Đặc biệt, môi trường số cho phép người dân đặt câu hỏi và phản hồi. Điều này tạo ra sự khác biệt so với mô hình truyền đạt một chiều trước đây.

Theo ông Miều, mục tiêu cuối cùng phải là giúp người dân biết, hiểu, thực hiện, giám sát và thụ hưởng chính sách, pháp luật thuận lợi hơn.

Việc xác định nhóm cần ưu tiên phổ biến pháp luật cũng cần dựa trên thực tiễn. Ông cho rằng người cao tuổi không nên chỉ được nhìn nhận như một nhóm thụ hưởng. Ở nhiều địa phương, già làng, trưởng bản và những người cao tuổi có uy tín lại chính là lực lượng có khả năng truyền tải pháp luật hiệu quả trong cộng đồng.

Cùng với mạng xã hội, AI được kỳ vọng giúp cá nhân hóa quá trình tìm kiếm thông tin. Thay vì đọc một văn bản dài hàng chục trang, người dân có thể đặt câu hỏi theo tình huống cụ thể và được hướng dẫn đến điều khoản liên quan.

Tuy nhiên, chính yêu cầu này cũng đặt ra bài toán mới: thông tin do AI cung cấp phải dựa trên cơ sở dữ liệu pháp luật chính thống, được cập nhật và có cơ chế kiểm soát độ chính xác. Nếu AI đưa ra thông tin pháp lý sai, hệ quả có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người sử dụng.

Phải rõ cơ quan chịu trách nhiệm

Công nghệ có thể thay đổi phương thức phổ biến pháp luật, nhưng một đạo luật chỉ có thể thực thi hiệu quả khi trách nhiệm quản lý được xác định rõ.

Từ góc độ này, TS Đặng Đình Luyến, nguyên PCN UB Pháp luật của Quốc hội cho rằng quy định về quản lý nhà nước trong dự thảo cần tiếp tục hoàn thiện.

Nếu Luật chỉ quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách, sau đó giao Chính phủ quy định chi tiết thì chưa làm rõ nội dung quản lý gồm những gì và cơ quan nào chịu trách nhiệm thực hiện từng nhiệm vụ.

Ông đề nghị nghiên cứu giữ cấu trúc cơ bản của quy định hiện hành, đồng thời sửa đổi để phù hợp thực tế. Trong đó, Luật cần xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương trong quản lý, phối hợp và tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc phân định rõ trách nhiệm càng quan trọng khi phương thức phổ biến pháp luật mở rộng sang AI, mạng xã hội và nền tảng số. Khi một thông tin pháp lý được phát hành tới hàng triệu người trong thời gian ngắn, câu hỏi không chỉ là công nghệ có thể làm gì, mà còn là ai chịu trách nhiệm về tính chính xác, cập nhật và độ tin cậy của thông tin đó.

Dự thảo Luật đã đặt vấn đề tăng cường ứng dụng công nghệ số, AI, nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật, đồng thời hướng tới lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Nếu cách tiếp cận này được cụ thể hóa, chuyển đổi số trong phổ biến pháp luật sẽ không chỉ là đưa thêm văn bản lên Internet. Đích đến phải là một hệ thống trong đó người dân có thể tìm đúng quy định khi cần, hiểu quy định đủ để thực hiện, được cảnh báo trước những rủi ro pháp lý và biết nơi tìm kiếm trợ giúp khi quyền lợi bị ảnh hưởng.

Khi đó, thước đo hiệu quả của phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần thay đổi: không chỉ là đã phổ biến bao nhiêu văn bản, mà là người dân có thực sự hiểu và sử dụng được pháp luật hay không.

Mộc Miên

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/dua-phap-luat-den-gan-nguoi-dan-bang-ai-va-nen-tang-so-192260816173202886.htm