[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 1

KỲ 1: BƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ DẤU ẤN TỪ THỰC TIỄN

Trong hành trình đổi mới và phát triển đất nước, những dòng vốn đến với người dân, doanh nghiệp và các vùng quê không chỉ mang theo nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh, mà còn phản ánh những bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng. Từ giải phóng sức sản xuất, phát huy các nguồn lực xã hội đến thúc đẩy phát triển bao trùm, lấy con người làm trung tâm, những quan điểm, chủ trương của Đảng từng bước được cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách, đề án, Chiến lược về kinh tế, tài chính. Những kết quả đạt được trong mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính, nhất là ở khu vực nông thôn, không chỉ ghi dấu những chuyển biến trong thực tiễn, mà còn cho thấy ý nghĩa của việc gắn đổi mới tư duy với đổi mới chính sách, khơi thông nguồn lực và mở rộng cơ hội phát triển.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế luôn gắn liền với mục tiêu chăm lo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc phát huy sức dân, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo và huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong Nhân dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước. Quan điểm ấy được thể hiện sâu sắc qua lời căn dặn: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, khẳng định vai trò chủ thể của Nhân dân, đồng thời chỉ rõ mục đích của việc huy động nguồn lực là phục vụ lợi ích của chính Nhân dân. Trong Di chúc, Người tiếp tục căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Những chỉ dẫn đó thể hiện sự thống nhất giữa phát triển kinh tế với chăm lo đời sống Nhân dân, giữa phát huy nguồn lực xã hội với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo trong quá trình hoạch định đường lối phát triển đất nước.

Nguồn: ST

Nguồn: ST

Đặc biệt, trong chỉnh thể nền kinh tế quốc dân, Người coi quan hệ công nghiệp - nông nghiệp là những trụ cột của nền kinh tế: “Công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích”. Chủ tịchHồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở: “Phải chú ý cả các mặt thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục y tế…” bởi nông nghiệp chỉ có thể phát triển và thực hiện được vai trò của nó khi có sự tác động của các ngành khác.Quan điểm ấy thể hiện nhận thức về tính liên kết, đồng bộ của nền kinh tế, trong đó phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời sự hỗ trợ của các ngành và hệ thống dịch vụ thiết yếu. Đặt trong yêu cầu phát triển hiện nay, những chỉ dẫn đó tiếp tục gợi mở ý nghĩa của việc phát huy vai trò tài chính, ngân hàng trong huy động, phân bổ nguồn lực, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống người dân nông thôn.

Kế thừa tư tưởng ấy, trong suốt hơn 96 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua hơn 40 thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta không ngừng bổ sung, phát triển và hoàn thiện tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó, nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được làm sáng tỏ, thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và năng lực vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước. Qua các kỳ Đại hội, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; xác lập ngày càng rõ hơn yêu cầu gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với phát triển con người.

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong đổi mới tư duy kinh tế, mở đường cho quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, giải phóng sức sản xuất, phát huy quyền chủ động và sức sáng tạo của các chủ thể kinh tế. Từ việc từng bước khắc phục những hạn chế của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của các thành phần kinh tế, cơ chế thị trường và yêu cầu huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Đổi mới không chỉ tạo ra những chuyển biến trong phương thức quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh, mà còn mở rộng không gian phát triển, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của người dân, doanh nghiệp.

Đại hội VII của Đảng (1991) tiếp tục khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời xác định yêu cầu từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn và tiền tệ. Đại hội XIII khẳng định sự phát triển lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác được củng cố, phát triển, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Sự phát triển trong nhận thức lý luận ấy không chỉ khẳng định vai trò của các chủ thể kinh tế, mà còn đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, phát huy đầy đủ vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển.

Trên nền tảng đổi mới tư duy kinh tế đó, nhận thức của Đảng về vai trò của tài chính, tiền tệ và tín dụng từng bước được bổ sung, phát triển, từ đổi mới cơ chế quản lý tài chính, hoạt động ngân hàng đến hoàn thiện cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Tài chính, tiền tệ không chỉ giữ vai trò là công cụ điều tiết, quản lý kinh tế vĩ mô, mà ngày càng được nhìn nhận đầy đủ hơn trong mối quan hệ với thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, kinh doanh và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, vấn đề mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính của người dân, doanh nghiệp ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là bước chuyển biến về tư duy, từ chú trọng đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng sang quan tâm ngày càng đầy đủ hơn đến cơ hội tiếp cận, khả năng sử dụng và thụ hưởng các dịch vụ tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế, tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành và triển khai chính sách tài chính toàn diện.

Hướng tới mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh

Hướng tới mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh

Đặt trong tổng thể đường lối phát triển đất nước, yêu cầu mở rộng cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các nguồn lực tài chính càng có ý nghĩa sâu sắc đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn – địa bàn chiến lược, đồng thời là khu vực còn nhiều dư địa phát triển nhưng cũng đứng trước không ít rào cản về nguồn lực, điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; xác định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, trong đó nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thông qua việc triển khai đồng bộ các chương trình, chiến lược và đề án, trọng tâm là xây dựng nông thôn mới, cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, định hướng phát triển kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tích hợp đa giá trị, mở rộng công nghiệp, dịch vụ và nâng cao đời sống người dân. Những định hướng này đồng thời đặt ra yêu cầu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Sự phát triển nhất quán trong tư duy và chủ trương của Đảng không chỉ đặt ra yêu cầu huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, mà còn đòi hỏi phải tạo lập những điều kiện để người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế nông thôn có khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các nguồn lực ấy, từng bước nâng cao năng lực sản xuất, tham gia thị trường và thụ hưởng thành quả phát triển. Từ góc độ đó, thúc đẩy tài chính toàn diện ở khu vực nông thôn không đơn thuần là mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ tài chính, mà còn là một phương thức quan trọng góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn mới.

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới phương thức sản xuất, nhu cầu tài chính của khu vực nông thôn ngày càng đa dạng, vượt ra ngoài phạm vi tín dụng truyền thống, mở rộng sang các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, bảo hiểm và quản lý tài chính phù hợp với đặc điểm sinh kế và điều kiện sản xuất. Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nông nghiệp hiện đại, thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy và phương thức cung ứng dịch vụ tài chính theo hướng đồng bộ, an toàn, hiệu quả và bền vững, tạo cơ sở thúc đẩy tài chính toàn diện từ định hướng phát triển thành những chính sách và giải pháp cụ thể.

Từ những bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của tài chính, tiền tệ và yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, việc thể chế hóa các chủ trương, định hướng thành cơ chế, chính sách và chương trình hành động ngày càng được chú trọng. Trong tiến trình đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đổi mới cơ chế quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng, phát triển hệ thống thanh toán và mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ tài chính, tạo nền tảng để nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Điểm đáng chú ý của Chiến lược là cách tiếp cận toàn diện, không giới hạn trong hoạt động tín dụng hay sự phát triển riêng lẻ của các tổ chức tài chính, mà hướng tới xây dựng hệ thống cung ứng dịch vụ đa dạng, phù hợp với nhu cầu của các nhóm đối tượng, gắn với hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiểu biết tài chính. Theo đó, khả năng tiếp cận tài chính được đặt trong mối quan hệ với chất lượng sử dụng dịch vụ, quyền lợi của người tiêu dùng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Đối với Việt Nam, nơi khu vực nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội, định hướng đó mang ý nghĩa sâu sắc. Tài chính toàn diện không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, bảo hiểm và những công cụ tài chính thiết yếu, từng bước nâng cao khả năng quản lý nguồn lực, mở rộng cơ hội tham gia thị trường và cải thiện sinh kế.

Ban chỉ đạo quốc gia về tài chính toàn diện họp phiên họp lần 2, năm 2025 (Ảnh: Nguồn internet)

Ban chỉ đạo quốc gia về tài chính toàn diện họp phiên họp lần 2, năm 2025 (Ảnh: Nguồn internet)

Trên cơ sở định hướng chiến lược, giai đoạn 2020–2025 ghi dấu những chuyển biến quan trọng trong hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ tài chính. Hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện với các quy định về định danh, xác thực điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo hiểm vi mô và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đáng chú ý, các quy định về cho vay được sửa đổi theo hướng mở rộng hình thức cho vay bằng phương tiện điện tử, đơn giản hóa thủ tục đối với một số khoản vay giá trị nhỏ, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn. Cùng với đó, hạ tầng thanh toán, thông tin tín dụng và kết nối dữ liệu tiếp tục được nâng cấp; thanh toán không dùng tiền mặt được thúc đẩy trong hoạt động kinh tế, dịch vụ công và chi trả an sinh xã hội. Công tác giáo dục tài chính, bảo vệ người tiêu dùng và phát triển tài chính vi mô được chú trọng, từng bước gắn mục tiêu tài chính toàn diện với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số và phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.

Sau hơn 5 năm triển khai, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2020–2025 đã đạt những kết quả quan trọng, cơ bản thực hiện mục tiêu tổng quát đề ra. Cả 6/6 mục tiêu cụ thể được triển khai đúng định hướng; 6/9 chỉ tiêu phấn đấu hoàn thành hoặc vượt mục tiêu. Đáng chú ý, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán tại ngân hàng đạt 86,97%, vượt mục tiêu tối thiểu 80%; tỷ lệ người trưởng thành có tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng trong 12 tháng đạt 33%, cao hơn mục tiêu 25–30%. Số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng bình quân 58,86%/năm, vượt xa mục tiêu 20-25%. Khoảng 290.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng, vượt mục tiêu ít nhất 250.000 doanh nghiệp; 71% người trưởng thành có thông tin lịch sử tín dụng trong hệ thống thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, cao hơn mục tiêu tối thiểu 70%.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong huy động, phân bổ nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế địa phương. Bình quân giai đoạn 2020–2025, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 24% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế, tiệm cận mục tiêu 25% đề ra trong Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. Đến cuối năm 2024, quy mô tín dụng đối với lĩnh vực này chiếm 23,47% tổng dư nợ nền kinh tế; Cùng với sự gia tăng về quy mô tín dụng, mạng lưới cung ứng dịch vụ tài chính tiếp tục được củng cố, mở rộng, với hơn 100 tổ chức tín dụng và khoảng 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay nông nghiệp, nông thôn. Song song với đó, chuyển đổi số đang tạo ra những chuyển biến đáng kể trong phương thức cung ứng và sử dụng dịch vụ tài chính, mở ra cơ hội đưa các tiện ích ngân hàng đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhất là tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Những năm qua, thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được đẩy mạnh, hạ tầng thanh toán từng bước được hiện đại hóa, các phương thức giao dịch qua thiết bị di động, mã QR, thanh toán phi tiếp xúc ngày càng phổ biến trong thương mại, dịch vụ và các giao dịch dân sinh. Cùng với việc thúc đẩy thanh toán điện tử trong thực hiện nghĩa vụ thuế, chi trả lương và cung ứng dịch vụ công, các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán từng bước đa dạng hóa sản phẩm, phương thức phục vụ, tạo thêm điều kiện để người dân tham gia vào hệ thống tài chính chính thức.

Đáng chú ý là việc đẩy mạnh kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng căn cước công dân gắn chíp, định danh điện tử và xác thực sinh trắc học trong hoạt động ngân hàng. Tính đến hết năm 2024, có 64 tổ chức tín dụng đã và đang phối hợp triển khai ứng dụng căn cước công dân gắn chíp tại quầy; 54 tổ chức tín dụng và 43 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán triển khai đối chiếu thông tin sinh trắc học qua ứng dụng trên thiết bị di động; hơn 50 triệu hồ sơ khách hàng được thu thập, đối chiếu thông tin sinh trắc học. Những kết quả này góp phần nâng cao độ tin cậy trong nhận diện khách hàng, tăng cường an toàn giao dịch và tạo nền tảng để phát triển các dịch vụ tài chính số thuận tiện, phù hợp hơn với nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Những kết quả đạt được trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia phản ánh bước tiến trong phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ tài chính và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, độ lớn của dòng vốn, độ rộng của mạng lưới hay số lượng tài khoản chưa phải là thước đo đầy đủ về hiệu quả của tài chính toàn diện. Giá trị thực chất của những nguồn lực được khơi thông phải được thể hiện ở khả năng nâng cao năng suất lao động, đổi mới phương thức sản xuất, gia tăng thu nhập và mở rộng cơ hội tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế.

Thực tiễn cũng cho thấy, gia tăng quy mô tín dụng không đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng về hiệu quả kinh tế và tính bền vững của tăng trưởng. Khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành giá trị phát triển phụ thuộc vào năng lực quản trị, chất lượng phương án sản xuất, kinh doanh, khả năng tiếp cận thị trường và kiểm soát rủi ro. Đối với nông nghiệp, nông thôn, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trước tác động của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Vì vậy, mở rộng tiếp cận tài chính phải gắn với nâng cao năng lực hấp thụ vốn, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường khả năng chống chịu của kinh tế nông thôn.

Từ những chuyển biến trong nhận thức, chính sách đến kết quả bước đầu của thực tiễn triển khai, tài chính toàn diện đang từng bước khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn. Song, hành trình từ khả năng tiếp cận dịch vụ đến năng lực sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính vẫn còn những khoảng cách cần thu hẹp. Đằng sau những kết quả về độ bao phủ, quy mô tín dụng và sự phát triển của công nghệ là những vấn đề đặt ra về thể chế, hạ tầng, chất lượng dịch vụ và năng lực của các chủ thể thụ hưởng. Nhận diện đầy đủ những rào cản ấy chính là yêu cầu để tài chính toàn diện không chỉ dừng lại ở việc mở rộng cơ hội tiếp cận, mà thực sự trở thành động lực kiến tạo nông thôn thịnh vượng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW

Trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng, mang tính chiến lược, đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; hội nhập quốc tế; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Những chủ trương lớn này không chỉ tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, mà còn đặt nền tảng chính trị, thể chế và động lực mới để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả các nguồn lực, tạo sức bật cho nền kinh tế trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ định hướng chiến lược đó, yêu cầu mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã và người dân khu vực nông thôn, không chỉ là vấn đề phát triển dịch vụ tài chính, mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để hiện thực hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.

Thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Trong tiến trình đó, việc ban hành Quyết định số 928/QĐ-TTg về Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 thể hiện bước tiếp nối quan trọng trong tư duy và hành động chính sách, hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính an toàn, thuận tiện, phù hợp với nhu cầu của người dân và doanh nghiệp; thu hẹp khoảng cách tiếp cận tài chính giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư; đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển hệ thống tài chính theo hướng bao trùm, bền vững.

Đặt trong tổng thể các chủ trương phát triển đất nước, tài chính toàn diện vì thế không chỉ là mục tiêu của riêng ngành ngân hàng, mà còn là một công cụ quan trọng để chuyển hóa các định hướng chiến lược của Đảng thành nguồn lực phát triển thực chất; góp phần khơi thông dòng vốn, giải phóng tiềm năng sản xuất, kinh doanh, phát huy sức sáng tạo của các chủ thể kinh tế và mở rộng cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển cho mọi người dân, nhất là tại khu vực nông nghiệp, nông thôn. Từ bước chuyển trong tư duy lý luận đến những dấu ấn của thực tiễn, tài chính toàn diện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc khơi thông các nguồn lực, mở rộng cơ hội phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.

Bởi lẽ, một nền nông thôn thịnh vượng không chỉ được đo bằng quy mô đầu tư hay tốc độ tăng trưởng, mà trước hết phải được thể hiện ở chất lượng cuộc sống, năng lực phát triển và khả năng làm chủ tương lai của chính người dân nông thôn. Đó cũng là thước đo thực chất của một nền tài chính hướng tới phát triển bao trùm, bền vững, lấy con người làm trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triển.

Phùng Thị Bình, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Agribank

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/emagazine-tai-chinh-toan-dien-khoi-thong-nguon-luc-kien-tao-nong-thon-thinh-vuong-ky-1-189812.html