EuroCham chỉ ra 8 rào cản vận hành
Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của EuroCham đạt 78,3 điểm trong quý III/2026, duy trì ở mức cao.
Ngày 15/10, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý III/2026.
Chỉ số BCI của EuroCham đạt 78,3 điểm trong quý III/2026, duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn đối mặt nhiều rào cản, đặc biệt là quy định, thủ tục hành chính và các vấn đề về thuế, quản lý tài chính.
BCI quý III/2026 giảm nhẹ 1,4 điểm xuống 78,3 điểm, nhưng niềm tin kinh doanh vẫn ở mức cao, với 64% doanh nghiệp đánh giá tình hình hiện tại tích cực. Tuy nhiên, diễn biến trái chiều giữa các ngành và thị trường cho thấy tâm lý kinh doanh còn phân hóa. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều bất định, Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhận định, dù Việt Nam duy trì tăng trưởng GDP ấn tượng, doanh nghiệp vẫn chịu áp lực từ chi phí đầu vào, nhu cầu suy yếu và thuế. Vì vậy, cần đẩy mạnh cải cách, nâng cao tính dự báo và khả năng chống chịu, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào việc kiến tạo giá trị.
Dù niềm tin kinh doanh duy trì ở mức cao, doanh nghiệp vẫn đối mặt trung bình 8 rào cản vận hành. Trong đó, 93% doanh nghiệp chịu tác động từ vướng mắc về quy định, thủ tục hành chính, thuế và tài chính; 60% doanh nghiệp gặp khó khăn về giấy tờ, 53% doanh nghiệp cho rằng quy định thiếu rõ ràng, thiếu nhất quán. Những trở ngại này làm gia tăng chi phí, kéo dài thời gian xử lý công việc và ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư. EuroCham cho rằng, cần đơn giản hóa thủ tục, minh bạch quy định và bảo đảm hướng dẫn thống nhất để doanh nghiệp yên tâm phát triển.

Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu đánh giá nền tảng kinh tế của Việt Nam vẫn rất hấp dẫn.
Sức hấp dẫn của Việt Nam được đánh giá cao nhờ sự kết hợp giữa các thế mạnh thực tiễn và tiềm năng dài hạn. Nguồn nhân lực (52%), lợi thế cạnh tranh về chi phí (51%) cùng sự ổn định về chính trị và kinh tế vĩ mô (44%) vẫn là những lợi thế cạnh tranh hàng đầu; bên cạnh đó là thị trường nội địa (42%), mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng khắp (33%) và vị trí chiến lược trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển (30%). Tính bền vững cũng đang nổi lên như một yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư: gần một phần năm số người được hỏi ghi nhận cam kết của Chính phủ về tăng trưởng bền vững, và yếu tố này đặc biệt được các doanh nghiệp lớn chú trọng.
Khi các doanh nghiệp xem xét lại chuỗi cung ứng để ứng phó với những căng thẳng toàn cầu và sự thay đổi trong quan hệ thương mại, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế không chỉ là một cơ sở sản xuất có tính cạnh tranh mà còn là trung tâm chiến lược kết nối tăng trưởng khu vực với thị trường toàn cầu. Việc vốn FDI đăng ký tăng lên mức 50,36 tỷ USD trong chín tháng đầu năm 2026, cùng với 21,07 tỷ USD vốn đầu tư thực hiện – mức cao nhất trong vòng năm năm qua – càng củng cố thêm bức tranh về sự quan tâm bền bỉ của các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, mức độ tin tưởng không đồng đều trong cộng đồng doanh nghiệp. Trong khi 97% các công ty có trên 500 nhân viên sẵn sàng giới thiệu Việt Nam là điểm đến đầu tư, thì các doanh nghiệp nhỏ lại tỏ ra thận trọng hơn. Điều này đặt ra yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh để doanh nghiệp ở mọi quy mô cùng phát triển.
Việt Nam và Châu Âu có nền tảng tự nhiên để thiết lập quan hệ đối tác, khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế của cả hai bên. Nhiều doanh nghiệp trong số đó là các doanh nghiệp gia đình, được xây dựng dựa trên kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và có mối liên kết sâu sắc với cộng đồng địa phương. Trong khi các doanh nghiệp lớn mang lại quy mô cho lĩnh vực sản xuất, cơ sở hạ tầng và quá trình chuyển đổi xanh, thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) lại đóng góp các công nghệ chuyên biệt, sự đổi mới sáng tạo, chuyên môn và cơ hội việc làm, thường tạo ra giá trị kinh tế vượt xa quy mô vốn đầu tư của họ.
Nghị quyết số 10/NQ-TW mang đến cơ hội kịp thời để ghi nhận và tăng cường những đóng góp mang tính bổ trợ này. Bằng cách chú trọng vào chất lượng đầu tư, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuỗi cung ứng nội địa, Nghị quyết khuyến khích một thước đo toàn diện hơn về thành công trong đầu tư; thước đo này không chỉ xem xét lượng vốn thu hút được mà còn cả năng lực, tri thức và các cơ hội được tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam.
Vấn đề không phải là lựa chọn giữa nhà đầu tư lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà là hỗ trợ họ cùng phát triển. Các dự án quy mô lớn có thể tạo ra nhu cầu và mở ra thị trường, trong khi các doanh nghiệp nhỏ hơn cung cấp năng lực chuyên biệt, củng cố mạng lưới nhà cung cấp tại địa phương và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn. Để đạt được điều này, cần có một môi trường đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp ở mọi quy mô, với các quy định rõ ràng, quy trình minh bạch, dễ dự đoán, cùng sự kết nối chặt chẽ hơn giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.
Doanh nghiệp mong muốn đẩy nhanh quyết định hành chính (37%), đồng bộ tiêu chuẩn quốc tế và số hóa dịch vụ công (35%). EuroCham cho rằng, cần tiếp tục cải cách thủ tục, tăng tính minh bạch và khả năng dự báo, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Nguồn CAND: https://cand.vn/eurocham-chi-ra-8-rao-can-van-hanh-post824929.html
