Fed tăng lãi suất: Việt Nam có dư địa ứng phó nhờ chính sách linh hoạt

Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm gây thêm sức ép lên tỷ giá, dòng vốn và chi phí vốn, nhưng Việt Nam vẫn có dư địa ứng phó nếu phối hợp chính sách linh hoạt.

Fed tăng lãi suất, Việt Nam có đủ dư địa ứng phó nếu phối hợp chính sách linh hoạt. (Ảnh: TTXVN)

Fed tăng lãi suất, Việt Nam có đủ dư địa ứng phó nếu phối hợp chính sách linh hoạt. (Ảnh: TTXVN)

Rạng sáng 17/9 (giờ Việt Nam), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa biên độ mục tiêu lên 3,75%-4%. Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của Fed kể từ năm 2023.

Fed cho biết động thái chính sách lần này nhằm đưa lạm phát trở về mục tiêu 2% sớm hơn và dự kiến cơ quan này có thể nâng lãi suất ít nhất một lần nữa từ nay đến cuối năm.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU), nhận định mức tăng 0,25 điểm phần trăm về cơ bản đã được thị trường dự báo. Điều cần theo dõi sát hơn là quỹ đạo chính sách tiếp theo của Fed, diễn biến đồng USD, lợi suất trái phiếu Mỹ và giá dầu thế giới.

Sức ép bên ngoài gia tăng nhưng chưa phải quá tiêu cực

Theo ông Nguyễn Quang Huy, kinh tế Việt Nam có thể chịu tác động từ quyết định của Fed qua bốn kênh chính gồm thương mại, tỷ giá, dòng vốn và chi phí huy động quốc tế.

Lãi suất USD tăng có thể khiến chi phí vay ngoại tệ và phát hành vốn quốc tế cao hơn. Đồng USD mạnh lên cũng làm tăng giá nhập khẩu năng lượng, máy móc và nguyên liệu. Trong khi đó, điều kiện tài chính toàn cầu chặt chẽ hơn có thể ảnh hưởng đến tiêu dùng, đầu tư và nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường lớn.

“Những yếu tố này tạo thêm thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, nhưng không đồng nghĩa Việt Nam phải điều chỉnh mục tiêu hoặc thu hẹp chính sách hỗ trợ một cách đột ngột,” ông Huy nhấn mạnh.

Theo chuyên gia này, Việt Nam vẫn có những nền tảng hỗ trợ quan trọng như kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, triển vọng thu hút FDI, xuất khẩu, đầu tư công, tiêu dùng trong nước và quá trình chuyển đổi số.

Trong bối cảnh môi trường bên ngoài kém thuận lợi, Việt Nam cần phát huy mạnh hơn các động lực nội tại, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng suất.

Chính sách tài khóa nên đóng vai trò chủ động hơn, qua đó giảm áp lực phải dựa quá nhiều vào tăng trưởng tín dụng. Mục tiêu tăng trưởng cao cần gắn với chất lượng đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng hấp thụ thực tế của nền kinh tế.

Đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, áp lực có thể xuất hiện ở chi phí vốn ngoại tệ, thanh khoản và biên lãi ròng. Nếu chênh lệch lãi suất VND-USD thu hẹp, một số ngân hàng có thể phải điều chỉnh lãi suất huy động nhằm duy trì nguồn vốn ổn định.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi. (Ảnh: Vietnam+)

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi. (Ảnh: Vietnam+)

Tuy nhiên, ông Huy cho rằng Fed tăng lãi suất không có nghĩa Việt Nam phải tăng lãi suất tương ứng. Chính sách trong nước cần dựa trên diễn biến lạm phát, thanh khoản, tỷ giá và sức khỏe của nền kinh tế thực.

Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn và các công cụ điều tiết để bảo đảm thanh khoản hợp lý.

Tín dụng cần được hướng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng, đồng thời kiểm soát dòng vốn vào những khu vực tiềm ẩn rủi ro.

Các ngân hàng thương mại cũng cần tăng cường quản trị tài sản - nguồn vốn, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn và thận trọng với những khách hàng có doanh thu bằng VND nhưng nghĩa vụ nợ bằng ngoại tệ.

Điều hành tỷ giá linh hoạt, tránh tạo áp lực lên lãi suất

Ở thị trường trong nước, tỷ giá trung tâm đang được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.632 đồng/USD, tăng 6 đồng mỗi USD so với phiên trước. Giá USD tại các ngân hàng thương mại được giao dịch quanh 25.805 đồng/USD mua vào và 26.185 đồng/USD bán ra, tăng 5 đồng/USD so với hôm qua.

Thực tế, tỷ giá tại Việt Nam đã giảm nhiệt trong hơn một tháng qua nhờ các khoản vay USD lớn được giải ngân cùng với động lực từ FDI và thâm hụt thương mại thu hẹp. Tuy nhiên, trong bối cảnh lãi suất Mỹ vẫn ở mức cao và còn khả năng tăng từ nay đến cuối năm, đặc biệt khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ có xu hướng nhích lên, dòng tiền từ doanh nghiệp FDI có thể dịch chuyển. Do đó, tỷ giá USD/VND có thể chịu áp lực cao hơn.

Khi lãi suất Mỹ và lợi suất tài sản bằng USD tăng, đồng USD có xu hướng trở nên hấp dẫn hơn. Nếu USD mạnh lên so với VND, doanh nghiệp cần nhiều VND hơn để mua cùng một lượng ngoại tệ phục vụ nhập khẩu hoặc trả nợ.

Theo lãnh đạo các doanh nghiệp, nếu Fed tiếp tục tăng lãi suất hoặc duy trì lãi suất cao lâu hơn dự kiến, khiến USD duy trì sức mạnh trong nhiều tháng, tác động có thể tích tụ trong chi phí nhập khẩu, nợ ngoại tệ và giá vốn của doanh nghiệp.

Nhóm dễ chịu ảnh hưởng là các doanh nghiệp vay hoặc mua USD để nhập hàng hóa, máy móc, nguyên vật liệu từ nước ngoài nhưng sản phẩm sau đó chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu và thu USD có thể hưởng lợi khi đồng bạc xanh mạnh lên, ít nhất về mặt quy đổi. Nếu doanh nghiệp bán được 1 triệu USD hàng hóa, cùng một lượng doanh thu ngoại tệ sẽ đổi được nhiều VND hơn khi USD tăng giá. Dù vậy, đây cũng không phải khoản lợi ích chắc chắn.

Tiến sỹ Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, Giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng đồng nội tệ mất giá có thể hỗ trợ xuất khẩu, nhưng với nền kinh tế vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu lớn như Việt Nam, tác động của tỷ giá khá phức tạp.

Các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu và thu USD có thể hưởng lợi khi đồng bạc xanh mạnh lên. (Ảnh: Vietnam+)

Các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu và thu USD có thể hưởng lợi khi đồng bạc xanh mạnh lên. (Ảnh: Vietnam+)

Nếu chịu áp lực nhập siêu, tỷ giá tăng sẽ làm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cao hơn, ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp. Vì vậy, cần đánh giá tác động tỷ giá đồng thời từ cả cán cân thương mại và mức độ phụ thuộc vào nguồn lực nhập khẩu.

Mặc dù vậy, theo ông Huy, VND có thể chịu áp lực nhất định khi USD mạnh lên nhưng mức độ tác động còn phụ thuộc vào cán cân thương mại, FDI, kiều hối và cung - cầu ngoại tệ trong nước.

"Tỷ giá nên tiếp tục được điều hành linh hoạt, có kiểm soát, không nhất thiết bảo vệ một mức cố định. Dự trữ ngoại hối cần được sử dụng có trọng tâm để xử lý những thời điểm mất cân đối tạm thời, đồng thời chủ động bổ sung khi điều kiện thuận lợi," ông Huy phân tích.

Các chuyên gia cũng cho rằng việc điều hành cần phối hợp hài hòa giữa tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tín dụng và chính sách tài khóa. Trong đó, chính sách tiền tệ cần duy trì sự ổn định của thị trường tài chính và kiểm soát lạm phát, trong khi chính sách tài khóa có thể phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng thông qua đầu tư công và các động lực của tổng cầu.

Khi kỳ vọng thị trường được ổn định và các chính sách được triển khai nhất quán, tác động từ quyết định của Fed có thể được kiểm soát, qua đó tạo thêm dư địa để Việt Nam vừa ứng phó với sức ép bên ngoài, vừa duy trì các động lực tăng trưởng trong nước./.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/fed-tang-lai-suat-viet-nam-co-du-dia-ung-pho-nho-chinh-sach-linh-hoat-post1136722.vnp