Ghé Đồng Hới, nhớ cố nhân
Dạo nọ, tôi đi phượt bằng xe khách, lang thang các tỉnh Bắc miền Trung, có ghé qua Đồng Hới, cái thành phố đã từng in bóng lung linh trong những câu thơ đẹp đến nao lòng của Xuân Hoàng: “Em đi, phố nhỏ động cành dừa/Cửa biển về khuya, gió đêm thổi lạnh/Phố nhỏ tan rồi sau bao trận đánh/Chúng ta về, ấm lại dải đường xưa” (Đồng Hới).
Có thể nói, đây là bài thơ hay nhất viết về Đồng Hới, được nhà thơ Xuân Hoàng sáng tác năm 1966, giữa khung cảnh nơi đây bị tàn phá bởi chiến tranh phá hoại của Mỹ. Bài thơ là một sinh thể nghệ thuật có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm thức lãng mạn và hiện thực khốc liệt của một vùng đất bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
Đây cũng là “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh thành của nhiều cây bút tài hoa, trong đó có một người thầy, người anh, người bạn một thuở của tôi nay đã đi xa, mà tự tôi đã nhiều lần lòng cứ dặn lòng, rằng khi nào đến Quảng Bình (cũ) nhất thiết phải ghé thăm mộ phần của anh. Đó là nhà thơ, nhà giáo, nhà báo Tạ Đình Nam, nguyên Tổng biên tập Báo Quảng Bình.
Thầy Tạ Đình Nam sinh năm 1950 ở Quảng Văn, Ba Đồn, Quảng Bình (nay là xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị). Người từng trải qua một “tuổi thơ dữ dội” suốt những năm phổ thông phải học trong lửa khói đạn bom chiến tranh. Năm 1969, thầy thi đỗ vào Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng cũng giống như nhiều thanh niên yêu nước thời đó, thầy tạm gác bút nghiên tham gia lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), đến năm 1974 mới về học Khóa 19 Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
Tốt nghiệp năm 1978, thầy về làm giảng viên Trường đại học Tổng hợp Huế, kinh qua các chức vụ trợ lý tổ chức, rồi Phó Trưởng khoa Ngữ văn. Năm 1989, thầy về làm chuyên viên Văn xã, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình, rồi sau đó đảm nhận chức vụ Tổng Biên tập Báo Quảng Bình. Thầy qua đời vào năm 2005, vì một cơn đột quỵ bất ngờ khi mới tròn 55 tuổi.

Nhà báo Tạ Đình Nam, Tổng Biên tập Báo Quảng Bình, thay mặt những người làm báo tỉnh nhà tặng hoa chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân chuyến Đại tướng về thăm quê hương (tháng 8/2002) - Ảnh: Tư liệu
Tôi học sau 3 năm, nên khi về trường lúc đầu gọi là thầy, nhưng dần về sau thân thiết khi tôi gọi thầy, khi gọi anh. Anh Nam là người thân thiện, dễ gần, dáng đi khuỳnh khuỳnh như võ sĩ, mày rậm, râu quai nón, nụ cười luôn nở trên môi đầy hóm hỉnh, cứ như biết tỏng được trong lòng người đối diện đang nghĩ gì. Chúng tôi dễ gần gũi, thân thiết nhau bởi vì căn tính vốn thân thiện, dễ gần, cùng tham gia hoạt động viết lách, nghiên cứu phê bình văn học.
Anh dạy văn học Việt Nam hiện đại. Là người làm thơ và có thơ in trên các báo từ thời còn học phổ thông, từng đoạt giải thưởng thơ về đề tài bảo vệ biên cương, khi còn ở lính. Anh còn dạy phần văn học cách mạng 1930-1945 và văn học các giai đoạn kháng chiến về sau...
Với giọng đọc thơ khi trầm hùng, khi sang sảng, biết dừng đúng lúc để ngắt câu, ngắt dòng, nhấn âm, nhấn chữ, là dòng đời xuôi ngược đẩy đưa để người lính trở về sau chiến tranh bước lên bục giảng, lại được trời phú cho kỹ năng đọc thơ làm quyến rũ tâm hồn người nghe. Tuy lúc ấy anh đã đùm đề một vợ hai con, nhưng vẫn được không ít nữ sinh liếc ngang, liếc dọc. Ở khoa tôi, bộ môn văn học Việt Nam hiện đại ngay từ đầu đã rất mạnh.
Thời đó, các thầy Lê Xuân Việt, Tạ Đình Nam, một người giảng văn xuôi, một người giảng thơ, như một cặp bài trùng. Bên cạnh, còn có thầy Lê Tài Thuận giảng văn học hiện thực phê phán luôn nhập vai vào thân phận từng nhân vật; thầy Đào Quốc Toàn giảng văn học lãng mạn như đánh thức sự tươi trẻ hồn người... Những sự khởi đầu ấy là tiền đề cho thế hệ đến sau, cũng xoay quanh khung trời hiện đại, không chỉ đầy tài năng cả trong giảng dạy và viết lách, mà còn học vị, học hàm mang đầy người: Hồ Thế Hà, Nguyễn Thành, Trần Nhật Thu...
Thời ấy, còn bao cấp, chế độ tem phiếu "vây kín" đời sống con người. So với mọi người trong khoa, anh Nam là người “dễ thở” nhất, vì may mắn có chị Thiên, vợ anh, bán ở cửa hàng thực phẩm. Nhiều đêm, tôi được anh gọi sang nhà, hai anh em nhâm nhi tí chút, nhưng thời ấy đói “phá mồi” là chính. Nói chung, nhờ "vía" chị, cuộc sống vật chất của gia đình anh tương đối ít bị áp lực. Nhưng tôi hiểu trong lòng anh vẫn ôm ấp giấc mộng thơ ca.
Có lúc anh nói với tôi rằng, không hiểu sao thời gian này không làm được thơ hay như khi còn ở lính? Cái tâm trạng ấy luôn làm anh day dứt. Nhất là từ khi căn hộ bên đường Mai Thúc Loan bị cơ quan chị thu hồi. Khó khăn lắm, xoay xở nhiều lắm, nhiều bước “qua sông thì phải lụy đò” lắm, anh chị mới ở yên được căn hộ của trường, ở tầng 3 khu tập thể Đống Đa.
Nhiều năm tham gia chi ủy và làm trợ lý tổ chức của khoa, đến khi mới được bầu (bắt đầu cơ chế bầu cử) và bổ nhiệm chức vụ phó trưởng khoa, chưa tròn một năm, thì diễn ra việc chia tách tỉnh (năm 1989), anh theo gia đình chuyển công tác ở Văn phòng UBND tỉnh, năm 1995 về làm Phó Tổng Biên tập và năm 1996 đảm nhận cương vị Tổng Biên tập Báo Quảng Bình.
Có một sự kiện khó quên. Khi anh đang làm trợ lý tổ chức, tôi làm Bí thư Liên chi đoàn thanh niên, còn anh Nguyễn Xớn làm Thư ký Công đoàn khoa (bây giờ gọi là Chủ tịch Công đoàn), thì thầy giáo Hoàng Tất Thắng cưới vợ. Thời ấy, đám cưới chỉ dọn trà, thuốc lá, bánh kẹo và hầu hết đều do Công đoàn cơ quan đứng ra tổ chức. Vì vậy, người đứng đầu Công đoàn phải điều hành chương trình (bây giờ gọi là MC, trở thành một nghề hái ra tiền!).
Tôi nhớ, đám cưới tổ chức tại tầng 2, hội trường A1 của trường. Hội trường được trang hoàng lộng lẫy, đầy hoa tươi, khách khứa đã an vị, đoàn xe rước dâu về đến cổng trường, đang chỉnh đốn hàng ngũ để đi vào. Dẫn đầu là chú rể và cô dâu trên tay cầm bó hoa tươi thắm đang tiến vào, thì tìm mãi không thấy người dẫn chương trình. Loay hoay mãi mới tìm thấy “ông trời” Xớn, cũng veston cà vạt tử tế, nhưng say rượu nằm ngủ dưới sàn, sau tấm phông màn trang hoàng lễ cưới, gọi mãi không dậy.
Như người ta thường nói về độ nhanh là “chỉ trong chớp mắt”, người dũng mãnh bước lên sân khấu đóng thế là Tạ Đình Nam. Là người lợi khẩu, ăn nói có duyên, am hiểu hoàn cảnh gia đình của bạn (trong khoa lúc ấy có mấy người tốt cùng Khóa 19 Khoa Ngữ văn Tổng hợp Hà Nội (Xớn, Nam, Thắng, Ngọc, Toàn), nên anh dẫn chương trình một cách trơn tru, lưu loát, trót lọt không hề bị vấp váp hay ngập ngừng, như đã được chuẩn bị từ trước.
Tôi nhắc điều này để thấy anh không chỉ có tài ứng biến linh hoạt trong mọi tình huống, mà còn là người có tấm lòng và nghĩa cử, có phép ứng xử cao đẹp với đồng nghiệp và cơ quan. Với riêng tôi, người chứng kiến từ đầu đến cuối sự kiện này, tôi phục ông anh của mình sát đất!
Lúc anh lui về làm báo, tôi có nhiều lần gửi sinh viên ra Quảng Bình thực tập. Anh Nam làm báo cỡ nào, tôi không rõ lắm. Nhưng tôi đọc thấy tràn ngập trên mạng nói rằng, anh làm “Tổng biên tập Báo Quảng Bình có nhiều đóng góp cho sự phát triển tờ báo địa phương và được đồng nghiệp, các thế hệ phóng viên nhớ đến với phong cách làm việc tận tụy, đặt lợi ích tập thể và Nhân dân lên hàng đầu”.
Ngoài ra, anh “đồng thời là nhà nghiên cứu văn hóa, văn học có nhiều gắn bó với vùng đất Quảng Bình và phong cách văn chương xứ Huế”. Chả thế mà lần ấy tôi ghé thăm báo, chỉ mới nói ý định sẽ viếng thăm mộ anh, Tổng Biên tập Đinh Tùng Lâm (Khóa 9) đã cho xe chở tôi viếng mộ và đến nhà thắp nhang một cách chu toàn. Tôi nhớ, lần cuối cùng tôi gặp anh là vào năm 2003, khi tôi đưa sinh viên ra thực tập. Tối đó, anh bận nhiều việc nhưng cố gắng sắp xếp để tiếp tôi. Cũng mồi, cũng bia, những món sang hơn nhiều so với thuở hàn vi khi còn ở Huế. Vẫn tình cảm thủy chung như đầu những năm 80 của thế kỷ trước chúng tôi gặp nhau...
Cho đến nay, cứ mỗi lần ghé Đồng Hới là trong tâm tưởng tôi hiện ra bóng dáng người xưa. Trong tiếng chạm ly, chúc tụng của bạn bè và học trò cũ, bên tai tôi vẫn vang vọng mấy câu thơ của anh ngày nào: “Cơn bão tan/bãi cát lại rộng dài/xác sinh vật nằm phơi dưới nắng/tôi đi tìm câu trả lời im lặng/trong lòng biển thắm sâu...” (Sau cơn bão). Câu trả lời im lặng của anh đã bắt đầu từ một ngày định mệnh của tháng 5 năm 2005, phải không thi nhân!
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202609/ghe-dong-hoi-nho-co-nhan-537485d/
