Giá nông sản hôm nay (10/9): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt tăng
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 10/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH
Giá lúa gạo hôm nay (10/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.

Giá gạo lại duy trì ổn định
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đang được chào giá cao nhất, khoảng 453 - 457 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 406 - 410 USD/tấn.
Ấn Độ vẫn giữ lợi thế cạnh tranh về giá khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm hiện khoảng 370 - 374 USD/tấn.
Thị trường gạo Philippines đang xuất hiện tín hiệu đáng chú ý khi tồn kho giảm nhanh trong lúc rủi ro thời tiết ngày càng rõ nét. Theo PSA, lượng gạo dự trữ đến ngày 1/8 chỉ còn 2,18 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ và giảm tới 13,3% so với tháng 7. Đáng lo hơn, lượng gạo tại NFA giảm hơn 32%, xuống 306.820 tấn, khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ bị thu hẹp trước nguy cơ El Niño.
Áp lực này diễn ra trong bối cảnh sản xuất nội địa chưa cho thấy khả năng bù đắp thiếu hụt. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel ước tính Philippines có thể thiếu khoảng 900.000 tấn gạo cho tiêu dùng trong năm nay và đang tính phương án nhập tới 5 triệu tấn, mức cao kỷ lục.
Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu lớn đang tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam. BPI ghi nhận Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương 74%. Đây vừa là cơ hội mở rộng xuất khẩu, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Manila vào nguồn cung bên ngoài.
GIÁ CÀ PHÊ BẬT TĂNG
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt bật tăng trở lại sau phiên giảm trước đó. Mức tăng được ghi nhận là 1.300 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua lên 95.000 - 95.800 đồng/kg.
Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất trong số các khu vực được khảo sát. Sau điều chỉnh, cà phê tại đây được thu mua ở mức 95.800 đồng/kg, tiến sát mốc 96.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng lên 95.500 đồng/kg. Lâm Đồng vẫn đứng thấp nhất nhưng cũng lấy lại mốc 95.000 đồng/kg sau khi giảm xuống 93.700 đồng/kg trong phiên trước.
Như vậy, mức tăng 1.300 đồng/kg trong phiên hôm nay đã giúp thị trường lấy lại toàn bộ phần giảm 500 đồng/kg của ngày 9/9 và đưa giá tại Tây Nguyên trở lại vùng cao hơn so với đầu tuần.
Trên thị trường thế giới, diễn biến giữa hai dòng cà phê chủ chốt tăng giảm trái chiều. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 1,56%, tương đương 53 USD/tấn, lên 3.458 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 cũng tăng 1,53%, tương đương 52 USD/tấn, đạt 3.446 USD/tấn.
Trên sàn New York giá cà phê Arabica tiếp tục chịu sức ép. Theo đó, hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 1,45%, tương đương 4,3 US cent/pound, xuống 291,3 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 1,65%, tương đương 4,75 US cent/pound, còn 282,65 US cent/pound. Với phiên điều chỉnh này, giá cà phê Arabica đã giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng hai tháng.
GIÁ TIÊU TĂNG
Giá tiêu hôm nay bất ngờ bật tăng mạnh tại các vùng sản xuất trọng điểm sau chuỗi ngày dài gần như đi ngang. Mức tăng phổ biến từ 2.000 - 4.000 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua lên 137.000 - 141.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, Đắk Nông (Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất khi được điều chỉnh thêm 4.000 đồng/kg, từ 137.000 đồng/kg lên 141.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá cao nhất tại các địa phương được khảo sát. Đứng ngay sau là Đắk Lắk với mức tăng 3.500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 140.000 đồng/kg.

Giá tiêu tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/kg
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu tăng 2.500 đồng/kg, đạt 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng tăng 2.000 đồng/kg, lên mức 137.000 đồng/kg.
Như vậy, chỉ sau một phiên, mặt bằng giá tiêu trong nước đã có sự thay đổi đáng kể. Mốc 140.000 đồng/kg xuất hiện trở lại tại hai vùng sản xuất lớn là Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) và Đắk Lắk, trong đó mức cao nhất đã lên 141.000 đồng/kg.
Đây cũng là phiên biến động mạnh nhất của thị trường nội địa trong những ngày gần đây, sau thời gian dài giá chủ yếu dao động quanh 135.000 - 137.000 đồng/kg.
Trái với diễn biến sôi động trong nước, thị trường hồ tiêu thế giới tiếp tục ổn định.
Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia vẫn được niêm yết ở 6.929 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil đứng ở 5.750 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được báo giá 9.487 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục đứng ở 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp tiếp tục không ghi nhận biến động mới.
Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 9 ở mức 468,10 Yên/kg, tăng 1,73%. Hợp đồng giao tháng 10 đi ngang ở mức 443 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) giảm nhẹ 0,43 Baht (0,5%) về mức 90,13 Baht/kg.
Tại thị trường nguyên liệu, giá mủ cao su tấm hun khói xuất khẩu tiêu chuẩn của Thái Lan giảm nhẹ 0,37% xuống 91,94 Baht/kg, trong khi mủ cao su khối STR20 tăng 1,92% lên mức 83,34 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 18.780 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,43%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 18.850 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,86%.
Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 giao dịch sôi động nhất trên sàn SHFE cũng tăng 335 Nhân dân tệ, tương đương 2,15%, đạt 15.920 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 249,90 Cent/kg, tăng 3,31%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 247,60 Cent/kg, tăng 2,78%.
Giá cao su hôm nay tiếp đà tăng trên các sàn TOCOM, SHFE và SGX đã củng cố tâm lý tích cực sau giai đoạn giá biến động phân hóa. Nổi bật nhất là hợp đồng TSR20 tháng 10/2026 tăng 3,31%, lên 249,90 Cent/kg, trong khi hợp đồng RSS3 tháng 9/2026 tại Nhật Bản đạt 468,10 Yên/kg. Tuy nhiên, kỳ hạn tháng 10 tại TOCOM đi ngang cho thấy thị trường vẫn cần thêm tín hiệu từ nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ và lượng tồn kho để xác lập xu hướng tăng bền vững.
GIÁ THỊT LỢN ÍT BIẾN ĐỘNG
Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục đi ngang, duy trì trong khoảng 58.000 - 60.000 đồng/kg. Đây vẫn là khu vực có mặt bằng giá cao nhất cả nước. Cụ thể, Thái Nguyên, Hà Nội, Phú Thọ và Hưng Yên cùng giữ mức 60.000 đồng/kg, cao nhất thị trường hiện nay.
Ở chiều ngược lại, Lào Cai và Điện Biên thu mua ở mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại phổ biến ở mức 59.000 đồng/kg. Như vậy, mốc 60.000 đồng/kg tiếp tục xuất hiện tại 4 địa phương phía Bắc và chưa có thêm tỉnh, thành nào gia nhập nhóm giá cao nhất.

Giá lợn hơi hôm nay không ghi nhận biến động mới tại cả ba miền
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay đồng loạt chững lại. Các thương lái tại khu vực đang thu mua lợn hơi quanh hai mức 57.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg. Trong đó, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai và Lâm Đồng cùng giữ mức 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Các địa phương còn lại duy trì ở 57.000 đồng/kg.
Mặt bằng giá miền Trung - Tây Nguyên vì vậy tiếp tục thấp hơn miền Bắc từ 1.000 - 2.000 đồng/kg ở nhiều địa phương.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay cũng không xuất hiện biến động mới. Giá tại khu vực dao động trong biên độ hẹp 57.000 - 58.000 đồng/kg.
Theo khảo sát, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau tiếp tục đứng ở mức 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Như vậy, giá lợn hơi miền Nam đã duy trì trạng thái tương đối ổn định trong nhiều phiên gần đây. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trong khu vực chỉ là 1.000 đồng/kg.
Xét trên phạm vi cả nước, giá lợn hơi hiện dao động từ 57.000 - 60.000 đồng/kg. Miền Bắc tiếp tục dẫn đầu với mặt bằng 58.000 - 60.000 đồng/kg. Trong khi đó, miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam phổ biến ở hai mức 57.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trên cả nước hiện duy trì ở 3.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
