Giá nông sản hôm nay 24/4: Cà phê bật tăng, hồ tiêu điều chỉnh nhẹ, gạo xuất khẩu khởi sắc

Trong ngày 24/4/2026, thị trường nông sản ghi nhận giá cà phê tiếp tục leo mạnh và áp sát vùng đỉnh mới; hồ tiêu giảm nhẹ sau chuỗi tăng trước đó; còn giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng đáng kể dù thị trường nội địa nhìn chung vẫn ổn định.

Thị trường cà phê

Sáng 24/4, giá cà phê trong nước tăng thêm 900–1.000 đồng/kg so với hôm trước, đưa mặt bằng giá tại Tây Nguyên lên ngưỡng 87.300 – 88.000 đồng/kg.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Trong đó, Đắk Nông ghi nhận mức cao nhất 88.000 đồng/kg sau khi tăng 900 đồng/kg. Cùng tăng 1.000 đồng/kg, Đắk Lắk và Gia Lai lên 87.800 đồng/kg. Tại Lâm Đồng, giá cũng cộng thêm 1.000 đồng/kg, đạt 87.300 đồng/kg.

Ở thị trường quốc tế, giá cà phê đồng loạt đi lên mạnh mẽ. Robusta trên sàn London kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 2,37%, tương đương 82 USD/tấn, lên 3.539 USD/tấn; kỳ hạn tháng 7/2026 tăng 1,95%, đạt 3.404 USD/tấn.

Mức tăng mạnh hơn được ghi nhận với Arabica trên sàn New York khi hợp đồng tháng 5/2026 tăng 4,64% lên 302,4 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 7/2026 tăng 2,3% lên 289,15 US cent/pound.

Hỗ trợ cho đà tăng là tồn kho robusta giảm xuống mức thấp nhất trong 16 tháng, nguồn cung từ Uganda và Indonesia suy giảm theo mùa vụ, cùng lo ngại chi phí logistics gia tăng do bất ổn địa chính trị. Tuy vậy, triển vọng dài hạn vẫn phụ thuộc vào vụ thu hoạch tại Brazil và diễn biến nguồn cung toàn cầu.

Thị trường hồ tiêu

Ngày 24/4, giá hồ tiêu trong nước giảm nhẹ 500–1.000 đồng/kg tại một số địa phương, khiến mặt bằng giá dao động trong khoảng 140.000 – 142.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, giá giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 140.000 đồng/kg – thấp nhất thị trường. Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai cùng giảm 500 đồng/kg, phổ biến ở mức 140.500 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục giữ đỉnh 142.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu cũng hạ nhiệt. Tiêu đen Indonesia giảm 0,21% xuống 7.047 USD/tấn. Tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ nguyên 6.000 USD/tấn, còn Malaysia duy trì 9.300 USD/tấn. Việt Nam ổn định trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với tiêu đen xuất khẩu.

Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia giảm còn 9.284 USD/tấn, trong khi Việt Nam giữ mức 9.000 USD/tấn và Malaysia đạt 12.200 USD/tấn.

Đợt giảm nhẹ này chủ yếu mang tính điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng, trong khi chi phí logistics toàn cầu và gián đoạn vận tải tiếp tục là yếu tố rủi ro với thị trường xuất khẩu.

Thị trường lúa gạo

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo nhìn chung ít biến động. Giao dịch vẫn diễn ra chậm và giá duy trì ổn định tại nhiều địa phương.

Với gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 dao động 8.200 – 8.300 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.400 – 8.500 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 – 8.900 đồng/kg; IR 504 khác ở mức 8.000 – 8.050 đồng/kg; OM 5451 ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 – 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.

Đối với gạo thành phẩm IR 504, giá tăng 300 đồng/kg, dao động 10.750 – 10.090 đồng/kg.

Ở thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg.

So với đầu tuần, giá gạo Việt Nam trên thị trường xuất khẩu tăng mạnh. Gạo Jasmine tăng 21 USD/tấn, đạt 486 – 490 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm tăng 2 USD/tấn lên 336 – 340 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động 490 – 500 USD/tấn.

Trên thị trường quốc tế, gạo Thái Lan 5% tấm tăng lên 388 – 392 USD/tấn, còn gạo 100% tấm đạt 369 – 373 USD/tấn. Ấn Độ ghi nhận gạo 5% tấm ở mức 346 – 350 USD/tấn và 100% tấm ở mức 283 – 287 USD/tấn.

Lan Lê

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-hom-nay-24-4-ca-phe-bat-tang-ho-tieu-dieu-chinh-nhe-gao-xuat-khau-khoi-sac/20260424095322932