Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian
Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.
Thuở hồng hoang và bài học đầu tiên về hôn nhân
Ngược dòng thời gian về thuở bình minh của lịch sử, khi con người sống thành từng bầy đàn, chuyện hôn nhân chưa có khuôn phép rõ ràng. Con người kết hôn trong cùng một cộng đồng nhỏ, thậm chí giữa những người cùng chung huyết thống. Trong áng mo "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường, thuở vũ trụ còn hỗn mang, chuyện gia đình cũng mơ hồ. Con người sống theo bản năng, chưa có ý thức về hệ lụy của việc giao phối cận huyết.

Tạo hình Hơ Nhị và Hơ Bhị (ảnh từ phim hoạt hình “Sử thi Đăm San”).
Qua thời gian, bằng sự quan sát trực quan, người xưa nhận ra bài học hệ trọng: những đứa trẻ sinh ra từ hôn nhân cận huyết thường yếu ớt, bệnh tật. Nòi giống muốn khỏe mạnh thì phải tìm bạn đời ở những vùng đất xa lạ. Những cuộc hành trình tìm vợ, tìm chồng ở các bản Mường khác bắt đầu. Đó chính là ý thức sơ khởi đầu tiên: lấy người ngoài dòng họ để bảo vệ nguồn gen, giúp con cháu đời sau có sức sống dẻo dai hơn.
Người Việt ở vùng đồng bằng có cách diễn giải triết lý qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Rồng và Tiên kết duyên sinh ra bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Chi tiết quyết định nằm ở khúc vĩ thanh: hai người chia tay, năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên non. Trăm người con tỏa đi khắp các địa bàn, kết hôn với các cộng đồng bản địa khác. Hành động này giúp dòng máu Việt hòa huyết để trở nên mạnh mẽ hơn, tránh suy thoái do quanh quẩn trong một bộ tộc nhỏ hẹp.
Bi kịch của một thời đại đã qua trong truyện “Sự tích Trầu Cau”
Ẩn sau các tình tiết thấm đẫm nước mắt của "Sự tích Trầu Cau" là một cuộc cách mạng tư tưởng về chế độ hôn nhân. Câu chuyện kể về hai anh em Tân và Lang giống nhau như đúc, cùng yêu và cưới một người con gái. Vào đêm tối, người vợ ôm nhầm Lang vì không phân biệt được chồng. Bi kịch ập đến. Lang đau đớn bỏ đi rồi hóa thành tảng đá vôi. Tân đi tìm em, kiệt sức chết hóa thành cây cau. Người vợ gục ngã bên gốc cau rồi hóa thành dây trầu không.
Các nhà nghiên cứu văn hóa nhìn thấy một tầng địa chất lịch sử ẩn sâu dưới lớp vỏ ngôn từ. Giai đoạn chuyển giao từ mẫu hệ sang phụ hệ từng tồn tại tục đa phu huynh đệ, tức là mấy anh em trai cùng chung sống với một người vợ để giữ gìn của cải trọn vẹn trong gia đình, tập trung nhân lực cày cấy trên mảnh đất chung. Khi lực lượng sản xuất phát triển, người đàn ông làm ra nhiều sản vật thặng dư, vị thế tăng lên. Họ nảy sinh nhu cầu biết chắc chắn đứa trẻ sinh ra là giọt máu của riêng mình để truyền lại tài sản. Chế độ một vợ một chồng bắt đầu hình thành, xung đột với tập tục cũ.
"Sự tích Trầu Cau" chính là khúc ca bi tráng về thời khắc chuyển giao ấy. Sự lạnh nhạt của Tân đối với người em sau khi cưới vợ chính là biểu hiện tâm lý mới. Đó là tư hữu hóa hôn nhân xuất hiện. Ba nhân vật phải chết đi để khép lại một thời kỳ lịch sử cũ kỹ.
Người Việt lựa chọn giữ lại ký ức về thời đại đã qua trong chính phong tục ăn trầu. Miếng trầu ngày cưới hòa quyện lá trầu, quả cau và vôi từ đá. Khi nhai, vị cay nồng, chát, bùi ngọt tạo nên dịch màu thắm đỏ như máu, biểu thị cho sự gắn kết bền chặt.
Trận chiến giữa tập tục cũ và trật tự mới
Người Ê-đê duy trì chế độ mẫu hệ, tài sản truyền theo huyết thống phía mẹ. Xã hội tồn tại tục nối dây, khi người chồng qua đời, người vợ góa có quyền kết hôn với em hoặc cháu trai bên họ chồng cũ. Đăm Săn bị ép buộc kết hôn với hai chị em góa chồng của cậu ruột là H'Nhị và H'Bhị. Dù phản kháng quyết liệt, chàng vẫn bị áp lực luật tục bắt quay về thực hiện nghĩa vụ. Sự phẫn uất đẩy Đăm Săn đến hành động nổi loạn chặt đứt cây thần Smuk, biểu tượng sức mạnh dòng họ vợ, rồi đơn độc đi tìm Nữ thần Mặt Trời để cầu hôn. Chuyến đi thất bại, Đăm Săn chết trong rừng sác. Cái chết của chàng là bi kịch của người đi trước thời gian. Chàng khao khát tự do yêu đương, thoát khỏi ràng buộc mẫu hệ, song xã hội đương thời chưa đủ điều kiện chuyển mình. Chàng ngã xuống như một người anh hùng tiên phong, báo hiệu cho những rạn nứt của một hệ thống tập tục cũ kỹ.

Hình minh họa Chử Đồng Tử và Tiên Dung.
Ở vùng đồng bằng, truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh lại phản chiếu cuộc chuyển giao quyền lực thắng lợi cho trật tự mới. Xưa kia, xã hội tồn tại tục mẫu cư, người con trai phải đến ở rể tại nhà vợ. Trong cuộc kén rể của Hùng Vương, trật tự này bị đảo ngược. Vua Hùng đặt ra thử thách sính lễ mang đậm tính thách đố với voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Ai đem đủ lễ vật đến trước thì được quyền rước Mỵ Nương về.
Sơn Tinh giành chiến thắng và rước Mỵ Nương về núi Tản Viên. Hành động này đánh dấu bước ngoặt vĩ đại người phụ nữ rời bỏ gia đình mình để đi theo chồng, sinh con mang họ cha, khởi đầu cho sự xác lập hoàn toàn của chế độ phụ hệ. Thủy Tinh đến sau, nổi giận dâng nước đánh ghen. Đằng sau trận bão lũ ấy là sự phản kháng dữ dội của tập tục mẫu cư cũ kỹ không dễ dàng lùi bước. Sự phản kháng đó cuối cùng đều thất bại trước sự kiên cường của Sơn Tinh. Trật tự phụ hệ mới gắn liền với nền văn minh nông nghiệp trị thủy đã được xác lập vững chắc.
Chuyện tình vượt qua mọi rào cản
Khi chế độ phụ hệ vững vàng, xã hội phong kiến lại nảy sinh rào cản mới. Hôn nhân biến thành công cụ phục vụ lợi ích gia tộc qua nguyên tắc cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, đòi hỏi môn đăng hộ đối làm điều kiện tiên quyết. Tình yêu cá nhân gần như bị tước đoạt.
Truyền thuyết Chử Đồng Tử và Tiên Dung là tuyên ngôn đanh thép về tình yêu vượt qua rào cản giai cấp. Một bên là chàng trai nghèo rớt mùng tơi, sống chui rúc dưới bãi cát ven sông. Một bên là nàng công chúa cành vàng lá ngọc. Số phận sắp đặt cho họ gặp nhau trong hoàn cảnh đặc biệt trên bãi hoang. Thay vì tuân theo giáo điều phong kiến, công chúa Tiên Dung coi đây là duyên trời định, quyết định kết hôn với Chử Đồng Tử ngay tại chỗ, bất chấp luật lệ triều đình. Tình yêu chân thành có sức mạnh phá tan ranh giới giàu nghèo, xây dựng hạnh phúc từ hai bàn tay trắng.
Cao trào của cuộc đấu tranh đòi tự do hôn nhân thể hiện sắc nét trong truyện thơ "Tiễn dặn người yêu" của dân tộc Thái. Cô gái xinh đẹp bị cha mẹ ép gả cho nhà giàu, bắt buộc phải bỏ lại mối tình đầu thề non hẹn biển. Không thể chống lại bằng bạo lực, cô dùng chính cuộc sống của mình làm vũ khí phản kháng: tự hủy hoại nhan sắc, giả điên giả dại để gia đình chồng chán ghét mà ruồng bỏ. Cuối cùng, chàng trai năm xưa đã tìm đến và chuộc lại nàng chỉ bằng một cuộn chỉ nhỏ bé. Họ nắm tay nhau trở về, sống hạnh phúc trọn đời.
Đọc lại những truyền thuyết, sử thi, truyện thơ của các dân tộc, chúng ta mới thấu hiểu hết tầng sâu văn hóa mà cha ông gửi gắm. Để rồi hôm nay, khi nhìn miếng trầu vẫn xuất hiện trang trọng trong lễ cưới, chúng ta hiểu rằng hạnh phúc gia đình hiện tại được dựng xây vững chắc trên nền móng của biết bao khát vọng từ ngàn xưa.
Nguồn CAND: https://cand.vn/gia-tri-cua-tinh-yeu-trong-van-hoc-dan-gian-post822010.html
