Giải ngân đầu tư công- Từ áp lực tiến độ đến yêu cầu hiệu quả

Đến hết ngày 17/9/2026, vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước giải ngân đạt 540.597,2 tỷ đồng, tương đương 52,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Trong khi đó, 24 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung. Những con số này cho thấy áp lực hoàn thành kế hoạch trong những tháng cuối năm là rất lớn. Nhưng dưới góc nhìn kiểm toán, vấn đề không chỉ là giải ngân nhanh hay chậm, mà là đồng vốn được bố trí có đến đúng dự án, được sử dụng đúng mục tiêu và cuối cùng có tạo ra giá trị phát triển tương xứng hay không.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Giải ngân thấp cần được nhìn từ nguyên nhân

Theo Bộ Tài chính, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022.607 tỷ đồng; nếu tính cả phần kế hoạch vốn cân đối ngân sách địa phương giao tăng, tổng kế hoạch đến ngày 17/9 là 1.037.322,1 tỷ đồng. Số giải ngân trong tuần từ ngày 10 đến 17/9 đạt 16.783,6 tỷ đồng.

Tỷ lệ 52,9% sau hơn tám tháng thực hiện cho thấy một lượng vốn lớn vẫn phải giải ngân trong thời gian còn lại của năm. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân thấp tự thân chưa đủ để kết luận về chất lượng hay hiệu quả của một dự án. Có dự án chậm giải ngân do đang hoàn tất thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng hoặc điều chỉnh thiết kế; cũng có dự án đang ở giai đoạn chuẩn bị cần thiết để bảo đảm chất lượng đầu tư.

Ngược lại, tỷ lệ giải ngân cao cũng chưa đồng nghĩa với hiệu quả cao nếu việc phân bổ vốn chưa sát nhu cầu, khối lượng hoàn thành chưa tương xứng với số vốn đã giải ngân hoặc công trình sau đầu tư chưa được khai thác đúng công suất.

Vì vậy, điều cần quan tâm không chỉ là “giải ngân bao nhiêu phần trăm”, mà là nguyên nhân nào tạo ra tỷ lệ đó, đồng vốn đã đi đến đâu và kết quả tương ứng là gì.

Không để áp lực cuối năm chuyển thành áp lực chạy theo tỷ lệ

Khi thời gian thực hiện kế hoạch còn ngắn, nguy cơ dễ nhận thấy là tâm lý chạy theo con số giải ngân. Yêu cầu hoàn thành kế hoạch nếu không đi cùng kiểm soát chất lượng có thể tạo áp lực đẩy nhanh thanh toán, nghiệm thu hoặc phân bổ vốn vào những dự án chưa đủ điều kiện.

Rủi ro không chỉ nằm ở việc giải ngân dồn vào cuối năm, làm giảm khả năng kiểm soát chất lượng, khối lượng và tính hợp lý của chi phí, mà còn ở việc điều chuyển vốn cơ học giữa các dự án khi chưa đánh giá đầy đủ khả năng thực hiện và hiệu quả đầu ra. Nếu những bất cập trong quá trình chuẩn bị và thực hiện không được xử lý, việc đẩy nhanh giải ngân có thể kéo theo phát sinh khối lượng, điều chỉnh tổng mức đầu tư hoặc kéo dài thời gian thực hiện, qua đó làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án.

Chậm giải ngân, vì vậy, thường không chỉ là vấn đề của khâu thanh toán. Đằng sau một tỷ lệ giải ngân thấp có thể là chất lượng chuẩn bị dự án, năng lực chủ đầu tư, sự phối hợp giữa các cơ quan, vướng mắc về đất đai và giải phóng mặt bằng, hoặc những bất cập trong cơ chế phân cấp và trách nhiệm quyết định.

Từ giải ngân vốn đến giá trị tạo ra

Đầu tư công không kết thúc ở thời điểm tiền được thanh toán. Giá trị cuối cùng phải được nhìn từ công trình, dịch vụ công, năng lực kết nối, tác động đến sản xuất - kinh doanh và lợi ích xã hội mà dự án tạo ra.

Một tuyến đường không chỉ được đo bằng số vốn đã giải ngân, mà còn ở khả năng rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và mở rộng không gian phát triển. Một công trình trường học, bệnh viện cần được nhìn qua công suất sử dụng, chất lượng phục vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế. Một dự án hạ tầng số cần được đánh giá qua mức độ sử dụng, khả năng kết nối dữ liệu và hiệu quả cải thiện quản trị.

Theo định hướng dự kiến Kế hoạch kiểm toán năm 2027, việc kiểm toán đầu tư công được đặt trong yêu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn với kết quả đầu ra và tăng cường kiểm toán hoạt động. Cách tiếp cận này cho thấy trọng tâm của kiểm toán đầu tư công cần từng bước chuyển từ “tiền đã chi bao nhiêu” sang “nguồn lực đó đã tạo ra giá trị gì”.

Từ góc nhìn kiểm toán, cần đặt ít nhất bốn lớp thông tin trong cùng một mối liên hệ: vốn đã bố trí, khối lượng thực hiện, tiến độ hoàn thành và kết quả sau khi công trình, dự án được đưa vào sử dụng. Khi những thông tin này được kết nối, tỷ lệ giải ngân mới có thể được nhìn nhận trong mối quan hệ với chất lượng và hiệu quả đầu tư.

Với 24 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương đang có tỷ lệ giải ngân thấp hơn bình quân chung, vấn đề không chỉ là xác định đơn vị nào chậm, mà quan trọng hơn là phân loại đúng nguyên nhân, nhận diện phần vốn có nguy cơ không sử dụng hết và đánh giá khả năng hoàn thành mục tiêu của từng nhóm dự án.

Giải ngân đầu tư công là điều kiện để đưa nguồn lực ngân sách vào nền kinh tế, nhưng không phải thước đo duy nhất của hiệu quả đầu tư. Trong những tháng cuối năm, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng tốc, mà phải đồng thời bảo đảm tiến độ, chất lượng, kỷ luật tài chính và hiệu quả đầu ra.

Một tỷ lệ giải ngân cao chỉ có ý nghĩa khi đi cùng một công trình có chất lượng, một nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu và những giá trị phát triển có thể kiểm chứng. Thước đo cuối cùng của đầu tư công không phải là bao nhiêu tiền đã được giải ngân, mà là đồng vốn công đã tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế và xã hội./.

Đức Minh

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/giai-ngan-dau-tu-cong--tu-ap-luc-tien-do-den-yeu-cau-hieu-qua