Giải pháp để tháo gỡ điểm nghẽn trong thương mại hóa nghiên cứu khoa học
Đưa kết quả nghiên cứu khoa học từ phòng thí nghiệm ra thị trường thực tế luôn là một bài toán khó. Từ góc nhìn của những doanh nghiệp, chuyên gia tư vấn công nghệ và các startup, hành trình thương mại hóa này đang vấp phải nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ để khoa học thực sự tạo ra giá trị kinh tế.
Bài toán thương mại hóa nghiên cứu khoa học
Một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến các đề tài nghiên cứu không thể thương mại hóa là do sản phẩm không xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của thị trường.
Bàn về vấn đề này tại phiên tổng thể thuộc Hội thảo “Định hướng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030” tổ chức ngày 25/3, tiến sĩ Trần Tấn Việt - Thành viên HĐQT Công ty TTC AgriS - một doanh nghiệp nông nghiệp đã thương mại hóa 100% sản phẩm nghiên cứu - đưa ra lời khuyên: "Nên nghiên cứu cái thị trường cần chứ đừng nên nghiên cứu cái mình thích".

Quang cảnh buổi hội thảo.
Để giải quyết vấn đề này, Tiến sĩ Ngô Đắc Thuần - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần IP Group, chuyên gia cao cấp về sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ bán dẫn - đã nhấn mạnh sự cần thiết của "tư duy ngược".
“Lâu nay, giới nghiên cứu thường làm theo tư duy thuận - làm theo đam mê khi có ý tưởng hoặc giải pháp kỹ thuật, nhưng lại thiếu sự đối chiếu với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội. Thay vào đó, cần đi từ nhu cầu của doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính để xem họ cần tài sản vô hình gì, từ đó mới phát triển tài sản trí tuệ (IP) tương ứng”, ông Thuần nói.
Ông Thuần cũng đề xuất thành lập một bộ phận hỗ trợ đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ (Innovation and IP Helpdesk) để tra cứu, phân tích tính mới của công nghệ thế giới, tránh tình trạng cấp vốn cho các đề tài trùng lặp, rồi sau khi nghiệm thu xong lại cất vào "ngăn kéo".
Điểm nghẽn mở rộng quy mô và sự thiếu vắng không gian thử nghiệm
Thương mại hóa không chỉ là tạo ra sản phẩm mẫu mà còn đòi hỏi khả năng nhân rộng hệ thống (scale-up). Rất nhiều nghiên cứu dù công bố bài báo và bằng sáng chế đầy đủ nhưng không thể kinh doanh do không đủ năng lực mở rộng quy mô sản xuất. Đại diện công ty AgriS nêu ví dụ thực tế: “Khi chúng tôi đặt hàng một viện nghiên cứu sản xuất trứng ngài gạo để tạo thiên địch kiểm soát dịch hại với số lượng 1kg/tháng, phía viện cho biết chỉ có thể sản xuất tối đa 60g, khiến chúng tôi cuối cùng phải tự đứng ra làm với năng suất 0,5kg mỗi ngày”, ông Việt kể lại.
Với các startup công nghệ, khó khăn này càng hiện hữu rõ rệt. Ông Trần Anh Tuấn - đại diện startup sản xuất nguyên liệu thực phẩm carbon thấp (thịt mít) Lemit Foods - nhận định hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Việt Nam có "đầu" (ý tưởng) và "chân" (thị trường) nhưng "thân" lại rất yếu.
“Các ý tưởng thường chỉ dừng lại ở giai đoạn bản thử nghiệm (prototype hay MVP) vì chúng ta đang thiếu các không gian thử nghiệm (testbed, living lab). Do thiếu cơ sở vật chất ở giai đoạn sản xuất thử nghiệm (OEM Pilot), startup rất khó để tích hợp sản phẩm của mình vào các dây chuyền sản xuất toàn cầu”, ông Tuấn nhận định.
Để thương mại hóa thành công, tính pháp lý của tài sản trí tuệ đóng vai trò cốt lõi. Ông Ngô Đắc Thuần cho rằng, cần chuyển đổi đầu ra của các nghiên cứu khoa học: từ việc chỉ tập trung công bố bài báo (paper) sang việc đăng ký bằng độc quyền sáng chế (patent), bởi các bài báo không mang lại nhiều giá trị tài sản do quyền tài sản đã thuộc về các tạp chí.
Tầm quan trọng của bằng sáng chế cũng được doanh nghiệp ''thực chiến'' khẳng định. Đại diện công ty AgriS chia sẻ rằng, khi đối tác muốn mua lại công nghệ để chuyển giao cho Singapore, họ yêu cầu điều kiện tiên quyết là phải có bằng sáng chế. Do chỉ có bí quyết công nghệ mà không có bằng sáng chế, giao dịch đã không thành công.
“Mục tiêu cuối cùng của mọi nỗ lực nghiên cứu là hướng tới thị trường cụ thể và tạo ra doanh thu. Phải biến trí tuệ thành tiền tệ", ông Việt kết luận.
Nghịch lý "sính ngoại" làm khó sản phẩm Việt
Ngay cả khi đã vượt qua các rào cản về nghiên cứu và sản xuất, doanh nghiệp công nghệ Việt vẫn đối mặt với thách thức lớn ngay trên thị trường nội địa. Ông Trần Thành Trọng - Phó Chủ tịch thứ nhất Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí điện TP Hồ Chí Minh, chia sẻ một nghịch lý: các thiết bị cơ điện "Made in Vietnam" đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và dễ dàng xuất khẩu, thu về khoảng 500 triệu USD mỗi năm, nhưng lại rất khó tiêu thụ trong nước do tâm lý sính ngoại. Có đến 70% hồ sơ đấu thầu yêu cầu thiết bị phải nhập ngoại đồng bộ, làm nản lòng các doanh nghiệp muốn tham gia.
“Thực tế là ở dự án tuyến đường sắt đô thị số 1, nhiều thiết bị do doanh nghiệp Việt sản xuất được xuất khẩu sang Nhật Bản, sau đó Nhật Bản lại bán ngược lại cho nhà thầu tại Việt Nam, trong khi doanh nghiệp nội địa không thể cung cấp trực tiếp”, ông Trọng ngậm ngùi nói.

Các đại biểu tham dự hội thảo.
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu rõ ràng không phải là con đường trải hoa hồng mà là một hành trình đầy thách thức, đòi hỏi sự thấu hiểu và đồng bộ từ nhiều phía. Để giải quyết triệt để những trăn trở của doanh nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần được củng cố toàn diện: từ việc áp dụng "tư duy ngược" bắt đầu từ nhu cầu thị trường, chuyển dịch trọng tâm tài sản trí tuệ sang bằng sáng chế, cho đến việc đầu tư xây dựng các không gian thử nghiệm để hỗ trợ quá trình mở rộng quy mô.
Bên cạnh nỗ lực tự thân của doanh nghiệp và nhà khoa học, sự hậu thuẫn từ chính sách quản lý nhà nước đóng vai trò như một bệ phóng then chốt. Những tín hiệu tích cực gần đây như việc thành phố ra mắt sàn giao dịch công nghệ, ban hành đề án thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cùng định hướng kiến nghị đưa chính sách chấp nhận rủi ro và ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước vào các dự thảo luật mới được kỳ vọng sẽ phá vỡ nghịch lý "sính ngoại" đang làm khó các doanh nghiệp nội địa.











