Giải pháp dung hòa nào cho việc 'phân quyền' cho chi nhánh?

Chi nhánh trong cấu trúc quản trị doanh nghiệp là mô hình phổ biến để mở rộng hoạt động theo địa bàn, tối ưu vận hành và phân quyền ký kết hợp đồng. Nhưng để vận hành chi nhánh đúng luật trên thực tiễn, doanh nghiệp nên ủy quyền cho chi nhánh hay người đứng đầu chi nhánh?

Việc “phân quyền” cho chi nhánh của doanh nghiệp thường được diễn đạt bằng các giấy ủy quyền/quyết định ủy quyền với chủ thể nhận ủy quyền là chi nhánh. Nhưng cơ sở pháp lý của việc thực hiện ủy quyền này trên thực tế “có khác nhau” nên rất cần một giải pháp dung hòa.

Chi nhánh là chủ thể nhận ủy quyền hay bắt buộc phải là cá nhân người đứng đầu chi nhánh?

Luật Doanh nghiệp 2020 (Luật DN 2020) xác định chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Hồ sơ đăng ký hoạt động chi nhánh phải có bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với người đứng đầu chi nhánh.

Ảnh: AI

Ảnh: AI

Cấu trúc này cho thấy Luật DN 2020 nhìn nhận chi nhánh như một “đơn vị vận hành” có thể được trao chức năng đại diện, nhưng vẫn gắn chặt với một đầu mối nhân sự, cụ thể là người đứng đầu chi nhánh trong các thủ tục pháp lý.

Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) lại lập luận theo chủ thể: “Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” và “chi nhánh… là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân”; “người đứng đầu chi nhánh… thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân”. Quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch do chi nhánh xác lập, thực hiện thuộc về pháp nhân.

Như vậy, BLDS 2015 khẳng định hai điểm quan trọng: (i) chi nhánh không phải pháp nhân; (ii) khi “ủy quyền” theo nghĩa đại diện trong giao dịch dân sự, thì người đứng đầu chi nhánh là bên được ủy quyền hợp lệ trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.

Một số doanh nghiệp thắc mắc rằng cách diễn đạt tại điều 44 Luật DN 2020 chưa thống nhất với khoản 1 điều 138 BLDS 2015 do “chi nhánh không phải là cá nhân, pháp nhân”.

Trong lần trả lời doanh nghiệp gần đây, Bộ Tài chính nhấn mạnh: (i) chức năng, mô hình, cơ chế hoạt động của chi nhánh và địa vị pháp lý người đứng đầu chi nhánh là vấn đề nội bộ, thực hiện theo BLDS và điều lệ/quy chế công ty; (ii) khoản 1 điều 138 BLDS là quy định về đại diện theo ủy quyền trong giao dịch dân sự; còn khoản 1 điều 44 Luật DN quy định chi nhánh đại diện cho doanh nghiệp để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh; do đó “nội hàm” hai quy định là khác nhau(1).

Song song, hệ thống văn bản hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp hiện hành tiếp tục “kỹ thuật hóa” vai trò người đứng đầu chi nhánh khi yêu cầu đăng ký hoạt động chi nhánh phải có giấy tờ pháp lý của cá nhân của người đứng đầu.

Các tư cách pháp lý trong ủy quyền

“Ủy quyền” trong thực tiễn doanh nghiệp thường được dùng theo hai lớp nghĩa: (i) ủy quyền nội bộ (phân công, phân cấp, trao thẩm quyền quản trị); và (ii) ủy quyền theo nghĩa đại diện trong giao dịch (đại diện theo ủy quyền) để xác lập, thực hiện giao dịch với bên thứ ba. BLDS 2015 thiết kế lớp nghĩa (ii) theo mô hình “chủ thể - chủ thể”, nghĩa là bên ủy quyền và bên được ủy quyền phải là cá nhân hoặc pháp nhân.

“Đại diện theo ủy quyền” kéo theo hệ quả quan trọng: giao dịch do người đại diện xác lập trong phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho người được đại diện; ngược lại, giao dịch do người không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi có thể không ràng buộc trừ trường hợp được công nhận/không phản đối/hoặc có lỗi…

Đến đây, chuyện “ủy quyền cho ai” phải được nhìn nhận như một cơ sở pháp lý của giao dịch. Theo Luật DN 2020, chi nhánh có bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền trong khi theo BLDS 2015, chi nhánh không phải là pháp nhân. Từ góc nhìn chủ thể pháp luật dân sự, chi nhánh không phải “cá nhân” cũng không phải “pháp nhân”, nên khó có thể xem chi nhánh như một “bên nhận ủy quyền” độc lập.

“Người đứng đầu chi nhánh” có vị trí pháp lý đặc thù. BLDS 2015 ghi nhận trực tiếp rằng người này “thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền”. Đồng thời như đã nói trên, pháp luật về đăng ký doanh nghiệp yêu cầu nhận diện người đứng đầu chi nhánh trong hồ sơ đăng ký, qua đó củng cố vai trò của một cá nhân xác định làm đầu mối trong các công việc ký, quản lý, chịu trách nhiệm nội bộ theo phân công.

Luật DN 2020 quy định “chi nhánh có chức năng đại diện theo ủy quyền” nhưng BLDS 2015 lại khẳng định “người đứng đầu chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền”. Dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, đây không nhất thiết xem là các quy định mâu thuẫn nếu hiểu Luật DN 2020 mô tả chức năng của chi nhánh, còn BLDS 2015 mô tả cơ chế chủ thể thực hiện việc ủy quyền. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với ý kiến của Bộ Tài chính được đề cập ở trên rằng nội hàm hai quy định là khác nhau.

Thực tiễn tranh chấp về ủy quyền

Thời gian vừa qua có không ít tranh chấp về việc ủy quyền của pháp nhân cho chi nhánh/người đại diện của chi nhánh. Thông thường các tranh chấp xoay quanh hai tình huống:

Thứ nhất, chi nhánh ký hợp đồng “theo ủy quyền” và có thể chứng minh việc ủy quyền này từ doanh nghiệp, khi đó doanh nghiệp bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý cho hoạt động ủy quyền. Dù cho quy định pháp luật còn những “điểm gợn” về cơ sở pháp lý phù hợp. Một vài vụ việc gần đây cho thấy hợp đồng ghi rõ chi nhánh ký theo ủy quyền của tổng giám đốc; Hội đồng Trọng tài xác định quyền, nghĩa vụ phát sinh thuộc doanh nghiệp; và lập luận dựa trên quy định về hậu quả của hành vi đại diện và quyền, nghĩa vụ của pháp nhân đối với giao dịch do chi nhánh xác lập(2).

Thứ hai, người ký (thường là người của chi nhánh) không chứng minh được ủy quyền hoặc vượt phạm vi, dẫn tới việc đối tác có thể viện dẫn cơ chế “không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ” theo quy định đại diện theo ủy quyền của BLDS, trừ các trường hợp được công nhận, biết mà không phản đối, hoặc có lỗi. Đáng chú ý, trong một số tình huống người không có quyền đại diện ký nhưng giao dịch vẫn có thể ràng buộc nếu doanh nghiệp biết và chấp nhận/không phản đối, nhằm đảm bảo an toàn pháp lý và tránh hành xử mâu thuẫn của bên được đại diện.

Giải pháp dung hòa

Để giải quyết vấn đề này theo hướng “đúng chủ thể” của chế định đại diện theo ủy quyền trong BLDS hiện hành, doanh nghiệp nên ủy quyền cho người đứng đầu chi nhánh, không nên chỉ ghi chung là ủy quyền cho chi nhánh. BLDS 2015 đã giới hạn chủ thể nhận ủy quyền là cá nhân/pháp nhân; đồng thời BLDS xác định chi nhánh không phải pháp nhân và trao cơ chế thực hiện nhiệm vụ “theo ủy quyền” cho người đứng đầu chi nhánh.

Tuy vậy, nếu tiếp cận theo đúng tinh thần “tách nội hàm” mà Bộ Tài chính nêu, có thể coi điều 44 Luật DN 2020 là quy định về chức năng tổ chức của chi nhánh, còn BLDS 2015 điều chỉnh cơ chế đại diện trong giao dịch, từ đó dẫn đến giải pháp dung hòa: văn bản ủy quyền vẫn có thể nhắc đến chi nhánh như “đơn vị thực hiện”, nhưng phải định danh người ký và ghi rõ “nhân danh doanh nghiệp”. Chúng tôi cho rằng trong mọi giao dịch với bên thứ ba, “bên được đại diện” nên là doanh nghiệp và người ký nên là người đại diện theo pháp luật hoặc người đứng đầu chi nhánh/nhân sự khác được ủy quyền hợp lệ và văn bản ủy quyền phải thể hiện rõ phạm vi đại diện là giải pháp tốt nhất theo các quy định hiện nay của Việt Nam.

(*) Công ty Luật TNHH HM&P

(1) https://mof.gov.vn/bo-tai-chinh/thong-bao-chi-dao-dieu-hanh/cong-van-so-13629btc-dntn-ve-viec-tra-loi-de-xuat-lien-quan-den-cac-kho-khan-vuong-mac-do-quy-dinh-phap-luat-trong-linh-vuc-tai-chinh-dau-tu, truy cập lần cuối ngày 20-2-2026

(2) https://htpldn.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1966&l=Nghiencuutraodoi, truy cập lần cuối ngày 20/02/2026.

LS. Nguyễn Văn Phúc (*)

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/giai-phap-dung-hoa-nao-cho-viec-phan-quyen-cho-chi-nhanh/