Giảm đầu mối nhưng không giảm cơ hội học tập của học sinh

Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông công lập theo chủ trương của Chính phủ là bước đi nhằm tái cấu trúc toàn diện hệ thống giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả và hiện đại. Mục tiêu cuối cùng là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm quyền học tập của người học và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Dự kiến sẽ giảm ít nhất 30% đầu mối cơ sở giáo dục công lập

Nhằm thực hiện Thông báo kết luận số 105 của Văn phòng Trung ương Đảng, Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 105/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, phát triển giáo dục trong giai đoạn mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc đẩy mạnh sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, việc sắp xếp phải tuân thủ các nguyên tắc chuyên môn và khoa học giáo dục, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy mô dân số và đặc điểm từng vùng miền. Quá trình triển khai không thực hiện sắp xếp một cách cơ học chỉ nhằm giảm đầu mối, mà phải đánh giá tác động, rút kinh nghiệm sau giai đoạn thí điểm trước khi nhân rộng. Nguyên tắc sắp xếp, sáp nhập là lấy người học làm trung tâm, bảo đảm quyền học tập và cơ hội tiếp cận giáo dục; tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường, không làm phát sinh rào cản về địa lý và chi phí, tuyệt đối không để học sinh vì hoàn cảnh khó khăn mà bỏ học hoặc không đến được trường.

Việc sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông công lập nhằm đảm bảo phù hợp với mô hình tổ chức của chính quyền địa phương hai cấp.

Việc sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông công lập nhằm đảm bảo phù hợp với mô hình tổ chức của chính quyền địa phương hai cấp.

Thực hiện thí điểm mô hình một trường chính, có các phân hiệu, điểm trường; hợp nhất các đầu mối quản lí để hình thành các cơ sở giáo dục có quy mô lớn; mở rộng cơ hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; tăng quy mô, mạng lưới trường mầm non, trung học phổ thông, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3, 4 tuổi; có ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương theo Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị.

Trong giai đoạn đầu, Bộ GD&ĐT định hướng hai mô hình thí điểm gồm: Trường một cấp học quy mô lớn (hoặc trung tâm giáo dục thường xuyên) có các phân hiệu, điểm trường và trường phổ thông nhiều cấp học quy mô lớn. Cả hai mô hình đều hướng tới chuyển trọng tâm từ quản lý sang quản trị hiệu quả; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và quản trị số, giảm thủ tục hành chính, bảo đảm minh bạch, thông suốt, đồng thời không làm ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh và chất lượng giáo dục toàn hệ thống.

Tránh sáp nhập cơ học, đặt quyền lợi của học sinh lên hàng đầu

Nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục công lập cũng là một mắt xích trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Tuy nhiên, do giáo dục là lĩnh vực đặc thù nên mọi quyết sách đều phải được cân nhắc trên cơ sở lợi ích lâu dài của người học. Điều quan trọng hơn là sau quá trình sắp xếp, học sinh có được học trong môi trường tốt hơn hay không; giáo viên có điều kiện phát huy năng lực nghề nghiệp hay không và ngân sách đầu tư cho giáo dục có được sử dụng hiệu quả hơn hay không. Khi những câu hỏi đó được trả lời bằng những kết quả cụ thể, việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập không còn là một nhiệm vụ hành chính mà sẽ trở thành động lực thúc đẩy đổi mới căn bản công tác quản trị giáo dục, góp phần xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng, chất lượng và phát triển bền vững.

Theo TS Nguyễn Tùng Lâm, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Việt Nam, việc quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông công lập để phù hợp hơn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp là xu hướng không thể đảo ngược song quá trình triển khai chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn. Tâm lý lo ngại của phụ huynh khi con phải thay đổi môi trường học tập; băn khoăn của giáo viên trước sự thay đổi về vị trí công tác; áp lực đầu tư cơ sở vật chất sau sắp xếp; hay những khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các địa phương đều là những vấn đề cần được tính toán kỹ lưỡng.

Chính vì vậy, mỗi phương án sắp xếp cần được xây dựng trên cơ sở điều tra, khảo sát đầy đủ, lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và chính quyền cơ sở. Cùng với đó, công khai thông tin, giải thích rõ mục tiêu, lộ trình và lợi ích của việc sắp xếp sẽ góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, hạn chế tâm lý lo lắng hoặc những cách hiểu chưa đầy đủ về chủ trương. Ngoài ra, một vấn đề khác không thể xem nhẹ là bảo đảm nguồn lực sau sắp xếp. Nếu chỉ giảm đầu mối mà không đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hạ tầng số và đội ngũ giáo viên thì rất khó đạt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục…

Việc triển khai sáp nhập cơ sở giáo dục phổ thông công lập sẽ được thí điểm tại một số địa phương trước khi nhân rộng trên toàn quốc.

Việc triển khai sáp nhập cơ sở giáo dục phổ thông công lập sẽ được thí điểm tại một số địa phương trước khi nhân rộng trên toàn quốc.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh cũng cho rằng, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập là cần thiết để tinh gọn, nâng chất lượng. Nếu triển khai tốt, có thể giảm nhiều đầu mối như mục tiêu mà Bộ GD&ĐT đề ra. Mặc dù vậy, PGS.TS Đỗ Văn Dũng cũng cho rằng, việc sắp xếp cần dựa trên cơ sở dữ liệu thực tế, có lộ trình cụ thể và đặt quyền lợi của người học lên hàng đầu. Nếu việc sắp xếp được thực hiện khoa học trên cơ sở dữ liệu dân số, quy hoạch phát triển đô thị, nhu cầu học tập và đặc thù từng địa phương thì việc tái cấu trúc sẽ tạo điều kiện hình thành những cơ sở giáo dục có quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng quản trị và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

Theo Bộ GD&ĐT, 15 địa phương được lựa chọn tham gia thí điểm gồm: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, TP Huế, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Nghệ An, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đồng Nai. Việc chọn lựa này đảm bảo tính đại diện toàn diện về vùng miền, điều kiện kinh tế xã hội cũng như đặc điểm dân cư của từng khu vực, đặc điểm mạng lưới cơ sở giáo dục và năng lực tổ chức thực hiện. Căn cứ điều kiện thực tiễn, mỗi địa phương xây dựng kế hoạch, phương án, điều kiện triển khai, lựa chọn một hoặc một số mô hình phù hợp; xác định rõ phạm vi, lộ trình, mục tiêu, giải pháp và trách nhiệm tổ chức thực hiện; tổ chức theo dõi, đánh giá và báo cáo kết quả theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.

Theo lộ trình đặt ra, trước 30/8, hoàn thành giai đoạn thí điểm, thiết lập mạng lưới trường lớp phù hợp với địa bàn, quy mô dân số; hoàn thiện bộ máy tổ chức và phương án quản trị trường học để vận hành ngay từ đầu năm học 2026-2027.

Tháng 12/2026, Bộ GD&ĐT sẽ tiến hành đánh giá toàn diện kết quả từ 15 tỉnh, thành phố này để làm căn cứ sửa đổi các quy định pháp lý, hoàn thiện cơ chế chính sách đặc thù nhằm chuẩn bị cho việc nhân rộng mô hình ra phạm vi toàn quốc từ tháng 3/2027.

Huyền Thanh

Nguồn CAND: https://cand.vn/giam-dau-moi-nhung-khong-giam-co-hoi-hoc-tap-cua-hoc-sinh-post816046.html