Giảm nhẹ rủi ro thiên tai: Thông tin cảnh báo sớm cần dễ hiểu và liên thông

Cùng với yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo sớm thiên tai, việc chuyển thông tin sang ngôn ngữ dễ hiểu, sát thực tế được coi là nhiệm vụ quan trọng, để góp phần giảm nhẹ rủi ro thiên tai.

Thông tin dự báo, cảnh báo sớm thiên tai cần dễ hiểu và liên thông giữa các cấp. (Nguồn: Vietnam+)

Thông tin dự báo, cảnh báo sớm thiên tai cần dễ hiểu và liên thông giữa các cấp. (Nguồn: Vietnam+)

Trong bối cảnh thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, cực đoan và dị lường, việc nâng cao hiệu quả dự báo và cảnh báo sớm đang trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ là dự báo chính xác mà còn phải truyền tải thông tin nhanh, cụ thể tới từng địa phương và cộng đồng. Song song với đó là xây dựng hệ thống cảnh báo đồng bộ, liên thông từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm dữ liệu được kết nối, chia sẻ đầy đủ giữa các cấp.

Theo Cục Khí tượng Thủy văn, giải pháp trên là nền tảng quan trọng để góp phần giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong thời gian tới, đồng thời phù hợp với "dòng chảy" của kỷ nguyên số, cũng như triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ định hướng đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển thông tin sang ngôn ngữ dễ hiểu

Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn Nguyễn Thượng Hiền, cho biết để nâng cao khả năng dự báo, trong những năm qua, ngành đã xây dựng mạng lưới 2.807 trạm khí tượng thủy văn quốc gia rộng khắp trên đất liền, hải đảo và vùng biển của Việt Nam với các công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Từ những trạm đo mưa, đo gió thủ công ban đầu, đến nay, tỷ lệ tự động hóa quan trắc khí tượng đạt 65%, đo mưa đạt 100%, giông sét đạt 100%, thủy văn đạt 69% và hải văn đạt 74%. Mạng lưới ra đa thời tiết cơ bản bao phủ toàn quốc, đưa ngành tiệm cận dần với các nước trong khu vực và thế giới.

Tuy vậy, ông Hiền cũng nhìn nhận khoảng trống lớn tồn tại suốt nhiều năm qua, là sự kết nối giữa nhà quản lý và giới khoa học chưa thực sự chặt chẽ. Đáng chú ý, dù công nghệ mới về "bắt bệnh" thời tiết liên tục được cập nhật, các nghiên cứu không ngừng được công bố, nhưng việc đưa những kết quả đã được xác định vào thực tiễn quản lý vẫn còn rời rạc.

Ông Hiền nhấn mạnh: “Khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở công nghệ mà ở việc thiếu một chuẩn chung để tích hợp các kết quả dự báo, cảnh báo từ nhiều nguồn khác nhau. Thực tế, không chỉ cơ quan nhà nước, mà cả khu vực xã hội hóa cũng đang phát triển nhiều mô hình, sản phẩm cảnh báo nhưng chưa có một quy trình thống nhất để lựa chọn, kiểm chứng và đưa vào hệ thống chính thống. Điều này khiến thông tin đến với người dân còn phân tán, thiếu tính tin cậy đồng nhất.”

Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn cũng bày tỏ băn khoăn về khoảng cách giữa “dự báo” và “cảnh báo tác động.” Theo ông Hiền, các bản tin hiện nay vẫn chủ yếu dừng ở thông tin kỹ thuật như cấp gió, cấp lũ, trong khi điều người dân cần biết là tác động cụ thể đến cuộc sống của họ thế nào.

Do vậy, cùng với yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, ông Hiền cho rằng việc chuyển thông tin sang ngôn ngữ dễ hiểu, sát thực tế là một nhiệm vụ quan trọng, với sự tham gia của cả nhà khoa học và truyền thông.

 Cảnh báo sạt lở. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Cảnh báo sạt lở. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Có chung quan điểm, Tiến sỹ Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Chủ tịch Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai, nhấn mạnh trong bối cảnh thiên tai ngày càng phức tạp, yêu cầu đặt ra không chỉ là dự báo, cảnh báo chính xác hơn, mà còn phải truyền tải thông tin nhanh và cụ thể hơn đến từng địa phương, từng cộng đồng.

Dữ liệu cần được liên thông giữa các cấp

Đề cập thêm giải pháp, ông Bùi Quang Huy - Phó Giám đốc Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai cho rằng giá trị thực sự của cảnh báo sớm không nằm ở việc phát đi thông tin mà ở khả năng giảm thiểu thiệt hại, nên đòi hỏi phải thay đổi nhận thức, hành vi của người dân và sự phối hợp giữa cộng đồng với lực lượng phòng, chống thiên tai.

Theo ông Huy, việc dựa vào cộng đồng không chỉ là huy động người dân tham gia, mà cần tạo điều kiện để họ được tiếp cận thông tin, được hướng dẫn và có khả năng hành động phù hợp. Thực tiễn cho thấy hệ thống cảnh báo thiên tai hiện vẫn tồn tại những “khoảng trống,” nhất là thiếu thông tin phản hồi từ cộng đồng. Đơn cử, dù các trạm quan trắc cung cấp dữ liệu về mưa, mực nước,... song những dấu hiệu nguy cơ sát thực từ chính người dân (như hiện tượng sạt lở, ngập úng cục bộ) vẫn chưa được khai thác đầy đủ.

Một yếu tố khác được ông Huy đề cập là thông tin cảnh báo cần được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng để thuận lợi cho việc truyền tải thông tin. Trong trường hợp nếu người dân không nhận diện được rủi ro mà mình đang đối mặt, thì dù có tiếp cận nhiều cảnh báo, người dân cũng khó đưa ra hành động phù hợp. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về rủi ro thiên tai, thông qua đào tạo, truyền thông và sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng bản đồ rủi ro, được xem là yếu tố then chốt.

Ngoài ra, ông Huy cũng nhấn mạnh đến giải pháp xây dựng hệ thống cảnh báo đồng bộ, liên thông từ Trung ương đến địa phương.

Theo ông Huy, hiện nay, nhiều địa phương đã phát triển các nền tảng riêng phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, song còn thiếu sự thống nhất về cấu trúc và dữ liệu, dẫn đến tình trạng phân tán, khó kết nối. Thực tế này đặt ra bài toán xây dựng một hệ thống tổng thể, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” và có khả năng chia sẻ hai chiều giữa các cấp.

Trên tinh thần đó, ông Huy đề xuất Hệ thống giám sát thiên tai tại các tỉnh nên được xây dựng trên cơ sở ứng dụng điện thoại. Vì ứng dụng này sẽ khai thác được các thông tin tại hiện trường và đặc biệt sẽ thu nhận được các thông tin, ý kiến của người dân nhanh chóng và kịp thời.

Trong tương lai, theo ông Huy, các hệ thống trên cần được định hướng phát triển theo hướng thân thiện hơn với người dùng, tích hợp tìm kiếm bằng giọng nói, tự động định vị và đưa ra hướng dẫn hành động phù hợp với từng tình huống cụ thể. Điều này đặc biệt quan trọng đối với nhóm người dễ bị tổn thương hoặc không có điều kiện tiếp cận thiết bị công nghệ hiện đại.

Trong khi đó, Tiến sỹ Bùi Du Dương - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Tài nguyên nước, cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, giải pháp quan trọng là cần một hệ thống linh hoạt, tích hợp nhiều nguồn dữ liệu và phương pháp. Trong đó, việc tận dụng đồng thời dữ liệu thực đo, viễn thám và công nghệ AI có thể giúp nâng cao năng lực dự báo mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào các hệ thống đắt đỏ.

Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi, ông Dương cho rằng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện về hạ tầng dữ liệu, cơ chế chia sẻ thông tin và năng lực vận hành. Trong đó, giá trị cốt lõi của tích hợp không nằm ở thuật toán, mà ở khả năng kết nối dữ liệu và chuyển hóa thành thông tin phục vụ ra quyết định./.

Theo thống kê, giai đoạn 2021-2025, trung bình mỗi năm Việt Nam chịu ảnh hưởng từ 10-12 cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, cùng hàng trăm đợt mưa lớn và các hình thái thời tiết cực đoan. Trong 5 năm gần đây, thiên tai đã khiến hơn 1.500 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế hàng trăm nghìn tỷ đồng. Không chỉ gia tăng về số lượng, nhiều loại hình thiên tai (như mưa lớn, lũ quét, dông lốc) còn xuất hiện trên phạm vi hẹp với cường độ lớn và diễn biến nhanh, trong khi đó phương pháp truyền thống bộc lộ hạn chế trong cảnh báo, dự báo.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/giam-nhe-rui-ro-thien-tai-thong-tin-canh-bao-som-can-de-hieu-va-lien-thong-post1099752.vnp