Giám sát phải đi đến cùng - Bài 2: Nhìn thẳng, nói thật, đánh giá đúng
Muốn giám sát đi đến cùng, không chỉ nhìn thẳng những hạn chế, bất cập, quan trọng hơn là phải nhận diện rõ nguyên nhân của những tồn tại. Bởi đánh giá đúng nguyên nhân cũng là tiền đề tháo gỡ các 'điểm nghẽn', đưa hoạt động giám sát thực sự trở thành động lực thúc đẩy đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
Cơ chế thực thi chưa đủ mạnh
Chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác giám sát, phản biện xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Những hạn chế đó cần được nhìn thẳng, nói thật, đánh giá đúng và có giải pháp khắc phục căn cơ”. Tinh thần đó cũng được nêu rõ trong nhiều báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền khi phân tích những nguyên nhân khiến hoạt động giám sát có lúc, có nơi chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một trong các nguyên nhân đáng chú ý là cơ chế thực hiện các kiến nghị sau giám sát chưa đủ mạnh.
Theo quy định hiện hành, phần lớn kiến nghị giám sát mang tính khuyến nghị, đề xuất. Bên cạnh những cơ quan, tổ chức tiếp thu nghiêm túc, vẫn còn tình trạng chậm trả lời, chậm giải quyết hoặc không báo cáo đầy đủ kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát, phản biện.
Đại biểu Quốc hội (QH) Phạm Văn Hòa đánh giá, một trong những khâu yếu nhất của hậu giám sát là việc theo dõi, đôn đốc và kiểm tra kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát. Ông cho rằng, sau mỗi cuộc giám sát, điều quan trọng không chỉ là ban hành kiến nghị mà còn ở khả năng theo đuổi, kiểm tra và bảo đảm các yêu cầu được thực hiện đầy đủ trong thực tế. Tuy nhiên, đây là khâu gặp nhiều khó khăn. QH và HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng trong hoạt động giám sát lại chủ yếu thực hiện quyền kiến nghị, yêu cầu và đề xuất. Trường hợp các kiến nghị chậm được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ, cơ quan giám sát cũng không có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, mà phải thông qua các cơ chế theo quy định của pháp luật. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là phát hiện được bất cập, mà còn là sự kiên trì, quyết liệt trong việc theo đuổi đến cùng các kiến nghị đã được đưa ra. “Mình có mạnh dạn, có dám nói hay không khi họ không làm? Hoặc trước những thiếu sót, bất cập thì các cơ quan chức năng có xử lý đến nơi đến chốn?” - Đại biểu Phạm Văn Hòa đặt vấn đề.
Chỉ thị số 18-CT/TW của Ban Bí thư cũng chỉ rõ, bên cạnh nhận thức chưa đầy đủ của một số cấp ủy, chính quyền, MTTQ Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, những tồn tại, hạn chế trong công tác giám sát, phản biện xã hội còn xuất phát từ việc “thiếu quy định cụ thể về quy trình, trách nhiệm trả lời, giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội”.
Theo bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, nguyên nhân cốt lõi, căn cơ của việc theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội ở một số lĩnh vực chưa quyết liệt, chưa theo đuổi đến cùng là do cơ chế trách nhiệm giải trình và cơ chế bảo đảm thực hiện kiến nghị sau giám sát hiện vẫn chưa đủ mạnh để chuyển các kiến nghị của Mặt trận từ “được xem xét” sang “phải được xử lý và phản hồi có trách nhiệm”.
Lý giải rõ hơn nguyên nhân này, bà Hà Thị Nga chỉ ra không ít bất cập trong các quy định hiện hành. Theo bà Nga, hiện nay, hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã tương đối rõ về quyền, trách nhiệm giám sát, phản biện của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức trong việc tiếp thu, phản hồi ý kiến, kiến nghị. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các quy định cụ thể về: Thời hạn bắt buộc tiếp thu; phản hồi; hình thức tiếp thu, giải trình; trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức được giám sát, cơ quan tổ chức có văn bản được phản biện; cơ chế theo dõi, đánh giá việc tổ chức thực hiện, chế tài trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ văn bản kiến nghị của MTTQ Việt Nam…
Trách nhiệm còn chồng lấn
Việc chưa phân định rõ trách nhiệm thực hiện kiến nghị sau giám sát cũng khiến công tác theo dõi, đôn đốc thiếu hiệu quả, nhiều vấn đề vì thế kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ. Trở lại câu chuyện quản lý và khai thác các trạm thu phí BOT giao thông có thể thấy khá rõ điều này. Các khâu phê duyệt dự án, lựa chọn vị trí đặt trạm, xây dựng phương án tài chính… đều gắn với những cơ quan, tổ chức và cá nhân cụ thể. Vì vậy, khi các bất cập được phát hiện, việc rà soát, điều chỉnh và xử lý trách nhiệm cũng có địa chỉ rõ ràng hơn.
Ngược lại, ở những lĩnh vực có phạm vi quản lý liên ngành, liên cấp, việc xác định trách nhiệm thường phức tạp hơn nhiều. Chẳng hạn, trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, hoạt động quản lý bao trùm toàn bộ chuỗi từ sản xuất, chế biến, vận chuyển đến lưu thông, tiêu thụ. Một vụ việc vi phạm có thể cùng lúc thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Y tế, Công Thương, Nông nghiệp - Môi trường và chính quyền địa phương. Tương tự, lĩnh vực môi trường cũng liên quan đồng thời đến nhiều cơ quan quản lý về tài nguyên, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, tài chính... ở cả Trung ương và địa phương.
Khi nhiều chủ thể cùng tham gia nhưng ranh giới trách nhiệm chưa rõ, rất dễ phát sinh tình trạng chồng chéo, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Hệ quả là các kiến nghị sau giám sát thiếu đầu mối chịu trách nhiệm, việc theo dõi, đôn đốc và tổ chức thực hiện khó đi đến cùng. Chính vì vậy, yêu cầu xác định rõ địa chỉ trách nhiệm trong hoạt động giám sát đang trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Nhận diện rõ những tồn tại này, tại cuộc làm việc với Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát về nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và nhiệm kỳ 2026 - 2031, Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn đã nhấn mạnh yêu cầu: Kết luận giám sát phải có địa chỉ trách nhiệm, thời hạn thực hiện, chỉ số kiểm đếm và cơ chế báo cáo lại.
Thiếu bản lĩnh, quyết liệt
Bên cạnh những bất cập về cơ chế, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định. Không chỉ đòi hỏi bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm theo đuổi vấn đề đến cùng, hoạt động giám sát còn phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, kỹ năng, dữ liệu và sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia. Khi những yếu tố này chưa được bảo đảm đồng bộ, chất lượng và hiệu quả của các kiến nghị sau giám sát khó có thể được nâng cao.
Nhìn nhận về vấn đề này, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga thẳng thắn: Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giám sát, phản biện xã hội ở một số nơi còn hạn chế, chưa có trình độ chuyên sâu; chưa có kỹ năng giám sát, phản biện xã hội; chưa có lập luận sắc bén; chưa kèm theo căn cứ pháp lý và phương án xử lý khả thi nên sức thuyết phục và khả năng theo đuổi kết quả còn hạn chế.
Từ thực tiễn hoạt động giám sát, nhiều đại biểu QH cũng cho rằng, vấn đề cốt lõi là người thực thi. Theo Đại biểu QH Phạm Văn Hòa, muốn nâng cao hiệu quả giám sát, người thực thi nhiệm vụ phải thực sự bản lĩnh, quyết liệt, không ngại va chạm, gian nan, không sợ mất lòng, không sợ bị trù dập để kiên trì theo đuổi vấn đề đến cùng. Đó cũng là lý do tại Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Mặt trận phải nâng cao bản lĩnh, chất lượng và phương pháp giám sát, phản biện; huy động tốt hơn chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, trí thức, doanh nhân, người có uy tín; dựa trên dữ liệu, khảo sát xã hội và tiếng nói từ cơ sở”…
Nhìn tổng thể, những hạn chế của hoạt động giám sát hiện nay không chỉ xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là sự đan xen của nhiều yếu tố. Để nhanh chóng khắc phục những tồn tại kéo dài, yêu cầu đặt ra là phải có những giải pháp đồng bộ, tạo áp lực đủ mạnh để các kiến nghị sau giám sát được thực hiện đến cùng.

Theo Đại biểu QH Phạm Văn Hòa, muốn “giám sát đến cùng, giám sát cho ra kết quả”, điều quan trọng là kiến nghị có được thực thi không, tiếng nói của cơ quan giám sát có trọng lực hay không? “Mình thực hiện giám sát nhưng có mạnh dạn đề xuất không? Sau kiến nghị, đề xuất mà không thực hiện thì mình phải làm gì, làm như thế nào để công tác giám sát có hiệu quả? Đó là điều mà các cơ quan chức năng, cơ quan giám sát và các đại biểu phải suy nghĩ” - ông Phạm Văn Hòa nói.
(Còn tiếp)











