Giảm thuế san sẻ gánh nặng, tiếp sức cho doanh nghiệp nhỏ phát triển
Quốc hội thảo luận nghị quyết giảm 30% thuế thu nhập cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế chuyển tiếp tránh điểm gãy khi vượt ngưỡng doanh thu.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, chiều 22/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Việc giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh trong giai đoạn 2026-2027 được các đại biểu Quốc hội đánh giá là chính sách cần thiết, kịp thời nhằm giảm áp lực chi phí, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo thêm động lực tăng trưởng.
* Đại biểu Nguyễn Văn Thân (Đoàn TP. Hồ Chí Minh): Tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh
Sự vào cuộc kịp thời của Chính phủ trong việc xây dựng Nghị quyết về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa rất kịp thời, đây là tiền đề quan trọng trước khi xây dựng Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Thân phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Qua nhiều cuộc khảo sát, làm việc với Ban soạn thảo, Bộ Tài chính và các cơ quan của Quốc hội, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa nhìn chung rất phấn khởi trước chính sách giảm 30% thuế. Theo tôi, không nên quá lo ngại khả năng một số đối tượng lợi dụng chính sách để trục lợi, bởi nếu có thì cũng chỉ là trường hợp thiểu số. Điều quan trọng là chính sách cần hướng tới số đông doanh nghiệp đang thực sự cần được hỗ trợ.
Mức giảm 30% có ý nghĩa lớn đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Nhóm có doanh thu từ 10 tỷ đồng trở xuống chiếm khoảng 96% số đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách. Vì vậy, việc giảm thuế sẽ tạo tác động khá rộng, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang chịu nhiều sức ép.
Từ thực tiễn khảo sát trong khoảng 20 năm cho thấy, việc áp dụng các cơ chế giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhất thiết làm giảm nguồn thu ngân sách. Ngược lại, khi doanh nghiệp được giảm gánh nặng thuế, có điều kiện duy trì và mở rộng hoạt động, khả năng đóng góp vào ngân sách có thể tăng lên. Do đó, việc giảm 30% thuế trong thời điểm hiện nay là rất cần thiết và cần được triển khai kịp thời.
Về lo ngại hộ kinh doanh không muốn chuyển lên doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thành lập rồi rút khỏi thị trường, theo tôi, doanh nghiệp gia nhập và rời khỏi thị trường là quy luật bình thường của nền kinh tế. Điều cần quan tâm hơn là khả năng tồn tại, phục hồi và đóng góp của khu vực này.
Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp trong dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, như miễn thuế 3 năm và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo, sẽ tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi.
Từ nay đến thời điểm triển khai còn không nhiều thời gian, vì vậy cần sớm tạo điều kiện để Nghị quyết đi vào thực tế, qua đó đánh giá hiệu quả và làm cơ sở hoàn thiện Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục tiêu cuối cùng là giảm áp lực, tăng sức chống chịu và tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh.
* Đại biểu Nguyễn Thành Trung (Đoàn Hải Phòng): Giảm chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính
Việc ban hành Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong các năm 2026, 2027 nhằm hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ vượt qua khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh kịp thời và cần thiết.
Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ cần được nhìn nhận không chỉ ở mức giảm số thuế phải nộp mà còn giảm chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính. Đặc biệt, với hộ kinh doanh, việc chuyển từ phương thức thuế khoán sang kê khai, sử dụng hóa đơn điện tử, thực hiện chế độ kế toán và các thủ tục liên quan đang tạo thêm chi phí. Nếu chỉ giảm 30% số thuế mà không giảm gánh nặng thủ tục, hiệu quả chính sách sẽ chưa trọn vẹn.
Từ thực tế đó, tôi đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo nghị quyết theo hướng nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp hoặc ưu đãi theo bậc doanh thu đối với ngưỡng 10 tỷ đồng, tránh tình trạng chỉ vượt ngưỡng một khoản nhỏ đã không còn được hưởng ưu đãi; đồng thời xem xét mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách đối với doanh nghiệp có doanh thu từ 10 tỷ đồng trở lên.
Cùng đó, quy định rõ, đơn giản việc xử lý số thuế đã tạm nộp trong 8 tháng đầu năm 2026. Việc bù trừ hoặc hoàn thuế nên được thực hiện chủ động trên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, hạn chế tối đa việc người dân, doanh nghiệp phải thực hiện thêm thủ tục.
Đồng thời, rà soát quy định về đối tượng áp dụng để bảo đảm thống nhất với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời làm rõ cách xác định doanh thu đối với doanh nghiệp mới thành lập, chia tách, sáp nhập hoặc có kỳ tính thuế khác năm dương lịch, qua đó vừa bảo đảm đúng đối tượng, vừa ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách.
Bởi một chính sách thuế tốt không chỉ giảm nghĩa vụ thuế mà còn phải giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp được hưởng chính sách thuận lợi, thực chất. Đây cũng là yếu tố quan trọng để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
* Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn Vĩnh Long): Giảm thuế cần đúng đối tượng, dễ thực thi và tránh tạo kẽ hở
Tôi tán thành việc ban hành Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp. Đây là chính sách thiết thực trong bối cảnh doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, góp phần giảm chi phí, tạo thêm nguồn lực duy trì sản xuất, kinh doanh, bảo đảm việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Yến Nhi phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Tuy nhiên, tôi đề nghị Quốc hội và Chính phủ tiếp tục hoàn thiện một số nội dung để chính sách thực sự công bằng và hiệu quả. Trước hết, cần đánh giá kỹ tiêu chí doanh thu không quá 10 tỷ đồng để xác định đối tượng được giảm thuế. Bởi giữa các ngành nghề có sự khác biệt lớn về chi phí và tỷ suất lợi nhuận; cùng một mức doanh thu nhưng mức lợi ích từ chính sách có thể rất khác nhau. Do đó, cần cân nhắc để bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, tránh bất bình đẳng.
Cần lưu ý nguy cơ doanh nghiệp, hộ kinh doanh chia tách hoạt động, điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh thu hoặc sử dụng các phương thức khác để đưa doanh thu xuống dưới ngưỡng 10 tỷ đồng. Theo đó, Chính phủ cần có cơ chế kiểm soát phù hợp, nhất là với các trường hợp có quan hệ liên kết, cùng chủ sở hữu, cùng địa điểm, ngành nghề hoặc có dấu hiệu chia tách kinh doanh.
Bên cạnh đó, chính sách cần được hướng dẫn kịp thời, thống nhất và đơn giản để người nộp thuế dễ xác định quyền lợi, nghĩa vụ, đặc biệt là việc kê khai, quyết toán và xử lý các khoản thuế đã tạm nộp trước khi Nghị quyết có hiệu lực.
Giảm 30% thuế trong 2 năm là giải pháp hỗ trợ có thời hạn, không nên tạo tâm lý chờ đợi hoặc kỳ vọng Nhà nước tiếp tục giảm thuế thường xuyên. Cùng với chính sách ưu đãi, cần tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch tài chính, đầu tư và sản xuất, kinh doanh.
* Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn Cà Mau): Bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng
Tôi đồng tình với sự cần thiết ban hành nghị quyết và chủ trương giảm thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp trong hai năm 2026-2027. Tuy nhiên, tôi đề nghị rà soát kỹ cách thiết kế chính sách để bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng và khuyến khích doanh nghiệp phát triển.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau Nguyễn Duy Thanh phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Theo dự thảo, doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Tiêu chí hưởng chính sách là doanh thu, nhưng mức hỗ trợ thực tế lại phụ thuộc vào thu nhập tính thuế và số thuế phải nộp. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ đang có lợi nhuận thấp, thậm chí thua lỗ. Vì vậy, doanh nghiệp càng khó khăn thì khoản thuế được giảm có thể càng thấp; doanh nghiệp không phát sinh thuế phải nộp thì cũng không được hưởng lợi từ chính sách này.
Do đó, cần làm rõ, với nguồn lực giảm thuế thu nhập doanh nghiệp dự kiến khoảng 4.750 tỷ đồng trong hai năm thì sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp thực tế phát sinh thuế để được hưởng, mức giảm bình quân bao nhiêu và nguồn lực này tập trung chủ yếu vào nhóm doanh nghiệp nào.
Một vấn đề khác cần được lưu ý là “điểm gãy” khi doanh nghiệp vượt ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp có doanh thu 9,9 tỷ đồng được giảm thuế, trong khi doanh nghiệp đạt 10,1 tỷ đồng có thể mất toàn bộ mức giảm. Quy mô hoạt động gần như tương đương nhưng nghĩa vụ thuế thay đổi đáng kể, có thể tạo tâm lý e ngại mở rộng sản xuất, thậm chí phát sinh động cơ chia nhỏ doanh thu hoặc hoạt động để tiếp tục hưởng ưu đãi.
Bởi vậy, cần nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp, theo hướng mức giảm thuế giảm dần trong một khoảng doanh thu nhất định khi vượt 10 tỷ đồng, thay vì vừa vượt ngưỡng đã mất toàn bộ ưu đãi. Cách thiết kế này sẽ góp phần khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô, đồng thời bảo đảm chính sách thuế thực sự hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.


