Giáo dục nghề nghiệp chuyển sang quản trị
Dự thảo Thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp được kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản từ quản lý theo điều kiện sang quản trị dựa trên kết quả và dữ liệu.

Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông thực hành sửa chữa ô tô. Ảnh: NTCC
Theo ThS Phan Thị Lệ Thu - Phó Hiệu trưởng thường trực Trường Cao đẳng Viễn Đông (TPHCM), nhiều vấn đề cốt lõi được chỉ ra, từ những bất cập kéo dài do thiếu “thước đo chung”, đến các giải pháp xây dựng hệ thống đánh giá minh bạch, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động.
Yêu cầu cấp thiết
- Khi chưa có một khung chuẩn thống nhất trên toàn quốc, việc đánh giá năng lực tổ chức đào tạo và chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang gặp khó khăn, bất cập gì, thưa bà?
- Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, việc thiếu một bộ chuẩn thống nhất toàn quốc đã dẫn đến một số bất cập mang tính hệ thống.
Thứ nhất, hiện nay còn thiếu một “thước đo chung” mang tính bắt buộc để đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Mặc dù đã tồn tại bộ tiêu chí đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, song do chưa có quy định pháp lý bắt buộc triển khai đồng bộ trên toàn hệ thống nên việc áp dụng trên thực tế còn chưa toàn diện và thiếu nhất quán.
Nhiều cơ sở vẫn tự xây dựng tiêu chí nội bộ hoặc lựa chọn áp dụng các bộ tiêu chuẩn khác nhau, dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong đánh giá, “mạnh ai nấy làm”. Hệ quả là việc so sánh chất lượng giữa các cơ sở trở nên khó khăn, thiếu cơ sở khách quan và đáng tin cậy cho người học, doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý trong quá trình lựa chọn, ra quyết định.
Thứ hai, công tác đánh giá hiện nay còn thiên về các yếu tố đầu vào, chủ yếu dựa trên các điều kiện bảo đảm khi cấp phép hoạt động như đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo…, trong khi bối cảnh thị trường lao động luôn biến động nhanh, yêu cầu về kỹ năng và năng lực nghề nghiệp thay đổi liên tục.
Đồng thời, việc đánh giá chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, khiến một số cơ sở đào tạo chưa thực sự chịu áp lực từ phía doanh nghiệp và xã hội trong nâng cao chất lượng đầu ra. Các tiêu chí đầu ra như tỷ lệ người học có việc làm đúng ngành, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, đánh giá của xã hội tuy đã được đề cập nhưng chưa được coi trọng đúng mức và chưa trở thành căn cứ đánh giá chính.
Thực tế, nhiều cơ sở có công bố các tỷ lệ này, song còn thiếu hệ thống minh chứng đầy đủ, phương pháp thu thập và kiểm chứng dữ liệu chưa chặt chẽ, dẫn đến độ tin cậy, tính minh bạch chưa cao; từ đó, ảnh hưởng đến hiệu quả kết nối giữa đào tạo, nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Thứ ba, cơ chế phân tầng, đầu tư gặp khó khăn khi chưa có chuẩn nhất quán; việc đánh giá nhằm phân bổ nguồn lực, hỗ trợ cơ chế cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn mang tính định tính, thiếu căn cứ dữ liệu. Đặc biệt, đối với khối ngoài công lập, việc thiếu chuẩn chung khiến môi trường cạnh tranh chưa thực sự công bằng. Những đơn vị đầu tư nghiêm túc, hướng tới chất lượng cao chưa có cơ chế được ghi nhận rõ ràng, trong khi một số cơ sở chất lượng thấp vẫn tồn tại.
Thứ tư, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình. Người học, xã hội khó tiếp cận các thông tin đáng tin cậy về chất lượng đào tạo của từng cơ sở.
Cuối cùng, việc thiếu chuẩn cũng làm hạn chế khả năng hội nhập quốc tế, vì không có hệ quy chiếu rõ ràng để so sánh với các hệ thống đào tạo nghề tiên tiến.
Những bất cập này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một bộ chuẩn quốc gia, vừa là công cụ quản lý, vừa là động lực cải tiến chất lượng.

ThS Phan Thị Lệ Thu.
Thiết lập nền tảng quản trị chất lượng
- Theo bà, đâu là điểm đáng chú ý của dự thảo Thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp mới được Bộ GD&ĐT ban hành?
- Dự thảo Thông tư có nhiều điểm mới đáng ghi nhận và có thể xem là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập nền tảng quản trị chất lượng cho toàn hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Bộ chuẩn này được thiết lập để áp dụng cho các loại hình cơ sở thiết lập nền tảng quản trị chất lượng cho toàn hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp, từ cao đẳng, trung cấp đến trung học nghề. Đây là nền tảng quan trọng để tạo sự đồng bộ trong quản lý và phát triển hệ thống.
Cấu trúc chuẩn được tiếp cận theo hai hợp phần rất hiện đại: điều kiện bảo đảm chất lượng (6 nhóm yếu tố); chỉ số hoạt động (14 chỉ số phản ánh kết quả). Điều này cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy “đầu vào” sang kết hợp hài hòa giữa đầu vào và đầu ra, trong đó đầu ra được nhấn mạnh hơn. Cách tiếp cận này tiệm cận với mô hình quản trị giáo dục tiên tiến: không chỉ “có gì” mà còn “làm được gì”.
Các chỉ số phản ánh rõ ràng thông qua các con số mang tính định lượng cụ thể, phản ánh trực tiếp hiệu quả đào tạo, như tỷ lệ người học có việc làm, mức độ phù hợp của việc làm, hay sự tham gia của doanh nghiệp: Tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp ≥ 70% (chỉ số 10); mức độ hài lòng của doanh nghiệp ≥ 70% (chỉ số 13); mức độ hài lòng của người học ≥ 70% (chỉ số 12). Điều này thể hiện rõ định hướng “đào tạo gắn với thị trường”.
Dự thảo đã xác định rõ nguyên tắc đánh giá dựa trên dữ liệu và minh chứng được cập nhật, công khai, gắn với trách nhiệm giải trình hằng năm trên hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục nghề nghiệp. Quy định này không chỉ nâng cao tính minh bạch, khách quan mà còn thúc đẩy chuyển đổi số toàn hệ thống. Đồng thời, đây là bước chuyển quan trọng từ “quản lý bằng kiểm tra” sang “quản trị dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình”, phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh mới.
Liên kết kết quả chuẩn với chính sách phát triển (quy hoạch, đầu tư, hỗ trợ cơ chế, xác định trường trọng điểm) cũng là điểm rất quan trọng, tạo động lực cạnh tranh lành mạnh trong toàn hệ thống.
- Việc ban hành bộ chuẩn nói trên được kỳ vọng sẽ tác động như thế nào đến hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt trong khắc phục những hạn chế đã nêu, thưa bà?
- Việc ban hành bộ chuẩn này sẽ tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ. Trước hết, chuẩn hóa toàn hệ thống, tạo mặt bằng chất lượng tối thiểu, giảm tình trạng chênh lệch giữa các cơ sở. Những đơn vị không đáp ứng được chuẩn sẽ buộc phải cải thiện hoặc bị đào thải.
Thứ hai, chuyển mạnh từ “quản lý hành chính” sang “quản trị theo kết quả”. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp buộc phải tái cấu trúc hoạt động, cải tiến liên tục, chuyển từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu, quan tâm đến đầu ra, việc làm và sự hài lòng của doanh nghiệp. Việc tự đánh giá hằng năm khiến các cơ sở không thể “đứng yên”, các trường phải thay đổi tư duy và cách tiếp cận, thúc đẩy gắn kết doanh nghiệp đặc biệt với yêu cầu ≥70% chương trình có sự tham gia doanh nghiệp
Thứ ba, tăng tính minh bạch và niềm tin xã hội. Khi dữ liệu được công khai, người học sẽ có cơ sở lựa chọn trường, ngành phù hợp.
Thứ tư, làm cơ sở cho phân tầng và đầu tư hiệu quả, hướng tới xây dựng các trường chất lượng cao, chuẩn quốc tế.

Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông trong giờ thực hành. Ảnh: NTCC
Để quy định mới phát huy hiệu quả trong thực tiễn
- Bà nhận định thế nào về tính phù hợp của quy định chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp?
- Tôi đánh giá cấu trúc gồm hai hợp phần chính: (1) các điều kiện bảo đảm chất lượng với 6 nhóm yếu tố cốt lõi và (2) các chỉ số hoạt động với 10 chỉ số phản ánh trực tiếp kết quả, hiệu quả đào tạo và có góp ý gì thêm, đặc biệt với các chỉ số gắn với việc làm và nhu cầu thị trường là hợp lý và tiến bộ.
Về điều kiện bảo đảm chất lượng (6 nhóm) sẽ giúp bảo đảm rằng cơ sở đào tạo có đủ nền tảng để vận hành: quản trị, đội ngũ, chương trình, cơ sở vật chất, tài chính và chuyển đổi số. Đặc biệt, việc đưa quản trị số và dữ liệu thành một điều kiện riêng là rất đúng xu thế.
Về các chỉ số hoạt động: 14 chỉ số phản ánh khá toàn diện chu trình đào tạo, từ tuyển sinh đến việc làm, chính là điểm tạo ra sự khác biệt, vì nó đo lường kết quả thực tế.
Tuy nhiên, tôi có một số góp ý. Với chỉ số 6 doanh nghiệp tham gia đào tạo (≥70%), nên phân loại mức độ tham gia (góp ý chương trình, giảng dạy, tuyển dụng…). Với chỉ số 13 mức độ hài lòng doanh nghiệp (≥70%), cần chuẩn hóa công cụ khảo sát để bảo đảm khách quan, tránh tình trạng “khảo sát hình thức”. Với chỉ số tuyển sinh ≥50%, cần xem xét đặc thù vùng miền và ngành khó tuyển.
Đề xuất bổ sung chỉ số về mức thu nhập khởi điểm và tốc độ tăng thu nhập để phản ánh chất lượng việc làm hoặc tỷ lệ làm việc đúng chuyên môn sau 1-3 năm. Đặc biệt, cơ sở dữ liệu phải được kết nối với cơ sở dữ liệu về dân cư để đối soát các số liệu về tỷ lệ việc làm sẽ thuyết phục hơn.
- Theo bà, dự thảo có quy định yêu cầu việc đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn phải dựa trên dữ liệu và minh chứng cụ thể; đồng thời, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải thực hiện tự đánh giá hằng năm, công khai kết quả và chịu trách nhiệm giải trình có cần thiết không?
- Tôi cho rằng quy định này cần thiết và mang tính đột phá vì dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại; giúp loại bỏ đánh giá cảm tính; tăng minh bạch và trách nhiệm giải trình; tạo cơ sở hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, thực tế khi triển khai sẽ phát sinh nhiều thách thức, khó khăn: Nhiều trường chưa có hệ thống dữ liệu đồng bộ; người học không phản hồi đầy đủ, khó kiểm chứng; đòi hỏi nguồn lực lớn về nhân sự và hệ thống; một số cơ sở chưa sẵn sàng minh bạch.
Khắc phục khó khăn này, giải pháp từ thực tiễn là xây dựng hệ thống CRM quản lý người học, cựu sinh viên; thiết lập mạng lưới doanh nghiệp đối tác để xác minh dữ liệu; ứng dụng chuyển đổi số trong khảo sát, theo dõi việc làm; nâng cao năng lực về quản trị dữ liệu, quản trị hệ thống; chuẩn hóa quy trình thu thập minh chứng.
- Bà có kiến nghị gì để Thông tư này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, góp phần thúc đẩy chất lượng, vị thế của giáo dục nghề nghiệp?
- Để Thông tư đi vào thực tiễn hiệu quả, cần ban hành hướng dẫn chi tiết, thống nhất, đặc biệt về phương pháp đo lường các chỉ số; đồng thời xây dựng hệ thống kết nối, đồng bộ với dữ liệu quốc gia nhằm bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc triển khai cũng cần có lộ trình linh hoạt, phân nhóm cơ sở giáo dục (công lập, ngoài công lập, vùng khó khăn) và áp dụng theo mức độ từ khuyến khích đến bắt buộc.
Bên cạnh đó, cần gắn các tiêu chuẩn với cơ chế phân bổ nguồn lực như tài chính, chính sách, chỉ tiêu tuyển sinh và các ưu đãi, trong đó ưu tiên đối với các cơ sở đạt chuẩn chất lượng cao. Việc hình thành hệ sinh thái đào tạo bền vững giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, cùng với từng bước hội nhập, đối sánh với chuẩn khu vực ASEAN và quốc tế cũng là yêu cầu quan trọng.
- Trân trọng cảm ơn bà!
“Dự thảo Thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp được xem là bước đi mang tính chiến lược, thể hiện định hướng chuyển từ quản lý theo điều kiện sang quản trị theo kết quả và dữ liệu. Nếu được triển khai đồng bộ, nghiêm túc và có lộ trình phù hợp, sẽ góp phần nâng cao chất lượng, vị thế của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trong hệ thống giáo dục quốc dân và trên thị trường lao động khu vực”, ThS Phan Thị Lệ Thu nhận định.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/giao-duc-nghe-nghiep-chuyen-sang-quan-tri-post778080.html










