Giáo sư, viện sĩ Trần Hồng Thái: Khoa học không có biên giới nhưng nhà khoa học có quê hương

'Người ta nói khoa học không có biên giới nhưng nhà khoa học thì có quê hương. Tôi nghĩ bất cứ nhà khoa học nào sinh ra ở Việt Nam đều tự hào khi được đóng góp cho quê hương, đất nước mình', Giáo sư, viện sĩ Trần Hồng Thái chia sẻ.

LỜI TÒA SOẠN

Năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ từ bỏ sự nghiệp ở Pháp, trở về phụng sự Tổ quốc theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai thập kỷ sau, nhà khoa học Nguyễn Văn Hiệu trở về từ Liên Xô, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tin tưởng giao trọng trách xây dựng Viện Vật lý khi mới 31 tuổi. Những câu chuyện ấy không chỉ thể hiện khát vọng cống hiến của trí thức Việt Nam mà còn cho thấy tầm nhìn trong phát hiện, tập hợp và trọng dụng nhân tài.

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của phát triển, bài học ấy càng mang ý nghĩa thời sự. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển, trọng dụng nhân tài, xây dựng môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, đóng góp cho đất nước.

Từ những người đặt nền móng cho khoa học nước nhà đến các thế hệ trí thức đang tiếp tục chinh phục những lĩnh vực nghiên cứu mới, câu hỏi xuyên suốt vẫn là: Làm thế nào để thu hút, trọng dụng người tài, biến khát vọng cống hiến thành những thành tựu khoa học phục vụ đất nước?

Qua những câu chuyện về các thế hệ trí thức Việt Nam, tuyến bài 5 kỳ của VietNamNet nhìn lại những bài học trong công tác sử dụng nhân tài, đồng thời gợi mở những vấn đề về cơ chế, chính sách để trí tuệ Việt Nam thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Bài 1: GS Trần Đại Nghĩa: Cuộc trở về năm 1946 và trọng trách kiến tạo ngành Quân giới

Bài 2: Vị giáo sư 31 tuổi mang trọng trách thời chiến và niềm tin của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Bài 3: Tôi trở về vì thấy được tự do nghiên cứu, nghĩ mình có ích nhiều hơn khi ở Việt Nam

Bài 4: Khi khoa học tiếp nối sứ mệnh với Tổ quốc: Cuộc trở về bắt đầu từ những mẫu ADN

XEM VIDEO:

Nhìn lại chặng đường từ GS Trần Đại Nghĩa trở về năm 1946 đến những thế hệ nhà khoa học hôm nay, theo Giáo sư, điều gì là sợi dây xuyên suốt trong câu chuyện trí thức Việt Nam với đất nước?

Nhìn lại chặng đường từ GS Trần Đại Nghĩa trở về năm 1946 đến những thế hệ nhà khoa học hôm nay, theo Giáo sư, điều gì là sợi dây xuyên suốt trong câu chuyện trí thức Việt Nam với đất nước?

GS.VS Trần Hồng Thái: Tôi cho rằng sợi dây xuyên suốt chính là tinh thần cống hiến của khoa học, của trí thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc.

GS Trần Đại Nghĩa được đào tạo tại Pháp, đã trở về theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đất nước đang trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Từ điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng nghiên cứu nghèo nàn, lạc hậu, ông cùng các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu, tạo ra những sản phẩm thiết thực phục vụ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp nối ông là những thế hệ nhà khoa học, những nhà lãnh đạo khoa học như GS Nguyễn Văn Hiệu, GS Đặng Vũ Minh, GS Châu Văn Minh cùng hàng chục nghìn cán bộ được đào tạo bài bản tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nhiều quốc gia trên thế giới. Họ đã góp phần tạo dựng nền tảng khoa học và công nghệ Việt Nam.

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, Viện Hàn lâm là một trụ cột tri thức quan trọng của đất nước.

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng của phát triển, vai trò của Viện Hàn lâm càng rõ nét. Chúng tôi phải tiếp tục kế thừa di sản của các thế hệ đi trước, đưa khoa học vào từng ngành, từng lĩnh vực, góp phần nâng cao năng suất và thúc đẩy đất nước phát triển.

Các thế hệ trước như GS Trần Đại Nghĩa, GS Nguyễn Văn Hiệu từng trở về trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Theo Giáo sư, điều gì khiến một nhà khoa học quyết định dành phần quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình cho đất nước?

Người ta thường nói khoa học không có biên giới, nhưng nhà khoa học thì có quê hương. Tôi nghĩ bất cứ nhà khoa học nào sinh ra ở Việt Nam đều tự hào khi được đóng góp cho quê hương, đất nước mình.

Bản thân người làm khoa học có một phẩm chất rất quan trọng, đó là niềm đam mê nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo. Khi những công trình, sản phẩm khoa học của mình được cống hiến cho đất nước, phục vụ xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng thì đó cũng là niềm vui rất lớn.

Tôi cho rằng lòng yêu nước, tình yêu quê hương cùng niềm đam mê sáng tạo là những nền tảng tạo nên khát vọng cống hiến của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam.

Qua câu chuyện của GS Phùng Hồ Hải, người từng có cơ hội phát triển sự nghiệp ở nước ngoài nhưng lựa chọn trở về, Giáo sư nhìn nhận thế nào về việc thu hút trí thức Việt Nam hiện nay? Điều gì quyết định việc một nhà khoa học không chỉ trở về mà còn muốn gắn bó lâu dài?

Yếu tố đầu tiên vẫn là lòng yêu nước, là tình cảm và sự biết ơn đối với quê hương, đối với môi trường đã nuôi dưỡng, đào tạo mình.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng có những thời điểm điều kiện nghiên cứu, cơ sở hạ tầng và môi trường làm việc trong nước chưa đủ để các nhà khoa học phát huy hết năng lực. Vì vậy, họ có thể lựa chọn làm việc ở nước ngoài.

GS.VS Trần Hồng Thái: "Không chỉ người Việt Nam, nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài cũng yêu quý Việt Nam và mong muốn đóng góp. Nếu xây dựng được những diễn đàn khoa học đủ lớn, chúng ta có thể thu hút họ đến nghiên cứu, đào tạo và hợp tác".

GS.VS Trần Hồng Thái: "Không chỉ người Việt Nam, nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài cũng yêu quý Việt Nam và mong muốn đóng góp. Nếu xây dựng được những diễn đàn khoa học đủ lớn, chúng ta có thể thu hút họ đến nghiên cứu, đào tạo và hợp tác".

Điều đó không có nghĩa họ không đóng góp cho Việt Nam. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tạo dựng được tên tuổi, có thành tựu được quốc tế ghi nhận. Chính họ cũng góp phần nâng cao danh tiếng, vị thế của khoa học Việt Nam.

Hiện nay, khi Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ rất quan tâm đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng ta đang có điều kiện đầu tư mạnh mẽ hơn cho hạ tầng nghiên cứu, xây dựng môi trường làm việc và đặt ra những bài toán lớn để các nhà khoa học tham gia giải quyết.

Khi có môi trường nghiên cứu tốt, có những nhiệm vụ đủ lớn và điều kiện phát huy năng lực, nhân tài sẽ có thêm động lực trở về, gắn bó và cống hiến.

Không chỉ người Việt Nam, nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài cũng yêu quý Việt Nam và mong muốn đóng góp. Nếu xây dựng được những diễn đàn khoa học đủ lớn, chúng ta có thể thu hút họ đến nghiên cứu, đào tạo và hợp tác.

Viện Hàn lâm mong muốn góp phần tạo dựng môi trường nghiên cứu đủ sức hấp dẫn để các nhà khoa học trong nước và quốc tế coi Việt Nam là một quê hương khoa học của mình.

Trong Chiến dịch 500 ngày đêm, Nhà nước đặt ra nhiệm vụ xác định danh tính hài cốt liệt sĩ bằng công nghệ ADN với khối lượng công việc rất lớn, thời gian triển khai gấp. Viện Hàn lâm đã đón nhận nhiệm vụ đặc biệt này với tâm thế như thế nào?

Trong Chiến dịch 500 ngày đêm, Nhà nước đặt ra nhiệm vụ xác định danh tính hài cốt liệt sĩ bằng công nghệ ADN với khối lượng công việc rất lớn, thời gian triển khai gấp. Viện Hàn lâm đã đón nhận nhiệm vụ đặc biệt này với tâm thế như thế nào?

Đó là là một vinh dự rất lớn. Trước hết, đây là nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học quan trọng, với nhiều vấn đề mới cần nghiên cứu. Chẳng hạn, công nghệ hiện nay cho phép phân tích ADN không chỉ dựa vào quan hệ di truyền theo dòng mẹ như trước đây, mà còn mở rộng khả năng đối sánh, nâng cao độ chính xác, giải quyết những trường hợp phức tạp.

Nhưng ý nghĩa khoa học mới chỉ là một phần. Điều đặc biệt quan trọng là giá trị của công tác đền ơn đáp nghĩa.

Có những gia đình đã chờ đợi hàng chục năm để tìm lại người thân. Chúng tôi luôn xác định phải cố gắng rút ngắn thời gian, tạo thêm cơ hội để các gia đình xác định được danh tính, nơi yên nghỉ của những người đã hy sinh.

Đó là trách nhiệm đối với những người có công với đất nước, là sự tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chính ý nghĩa thiêng liêng ấy tạo động lực để các nhà khoa học của Viện Hàn lâm tham gia, đóng góp một cách thực chất vào nhiệm vụ này.

Chiến dịch 500 ngày đêm cho thấy điều gì về năng lực khoa học hiện nay của Việt Nam? Chúng ta đã tích lũy được những nền tảng nào về con người, công nghệ và hợp tác quốc tế?

Chiến dịch 500 ngày đêm thể hiện quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị. Đây không chỉ là quyết tâm của lãnh đạo Đảng, Chính phủ mà còn là sự tham gia của các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp, tạo nên nguồn lực tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ.

Về khoa học, qua khảo sát kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi nhận thấy công nghệ mà Việt Nam đang tiếp cận, ứng dụng và bước đầu có kết quả thuộc nhóm công nghệ hiện đại, có độ chính xác cao. Nhiều quốc gia tiên tiến cũng đang nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ tương tự.

Theo đánh giá của chúng tôi, Việt Nam đang nằm trong nhóm những nước sớm tiếp cận hướng công nghệ này. Tất nhiên, phía trước còn không ít khó khăn. Sau khi nghiên cứu, thí điểm thành công, chúng ta phải mở rộng quy mô ứng dụng, đào tạo thêm nguồn nhân lực, nâng cao năng lực và công suất của các phòng thí nghiệm.

Đó là những công việc Viện Hàn lâm đang tập trung thực hiện. Tôi tin rằng với quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự nỗ lực của các đơn vị tham gia, chúng ta có thể thực hiện thành công nhiệm vụ.

GS.VS Trần Hồng Thái: "Chúng tôi luôn xác định phải cố gắng rút ngắn thời gian, tạo thêm cơ hội để các gia đình xác định được danh tính, nơi yên nghỉ của những người đã hy sinh. Đó là trách nhiệm đối với những người có công với đất nước, là sự tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc".

GS.VS Trần Hồng Thái: "Chúng tôi luôn xác định phải cố gắng rút ngắn thời gian, tạo thêm cơ hội để các gia đình xác định được danh tính, nơi yên nghỉ của những người đã hy sinh. Đó là trách nhiệm đối với những người có công với đất nước, là sự tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc".

Thành công của một nhiệm vụ khoa học lớn không chỉ đến từ máy móc hay công nghệ. Theo Giáo sư, yếu tố con người có vai trò quyết định như thế nào?

Một phòng thí nghiệm chỉ có thể hoạt động tốt khi có nguồn nhân lực đủ năng lực để vận hành. Hạ tầng dù hiện đại đến đâu cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi có con người làm chủ.

Cái hồn cốt của một phòng thí nghiệm chính là tri thức và nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ.

Bởi vậy, đào tạo nhân lực là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bên cạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu đỉnh cao, Viện Hàn lâm rất quan tâm đào tạo nhân lực cho những lĩnh vực đất nước đang cần như năng lượng hạt nhân, đường sắt tốc độ cao, vật liệu mới, công nghệ lượng tử, công nghệ vệ tinh...

Trong hơn 50 năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học. Nhưng để đáp ứng những yêu cầu mới, chúng ta phải tiếp tục phát huy nền tảng ấy, coi hợp tác quốc tế là cầu nối đưa tri thức và công nghệ tiên tiến đến Việt Nam, tiến tới làm chủ những công nghệ lõi.

Khoa học phải đi vào cuộc sống. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nói, khoa học, công nghệ không phải điều gì xa vời, mà có thể hiện diện trong những giống cây, quả cam, con cá hay sự phát triển của ngành nông nghiệp.

Chiến dịch 500 ngày đêm là nhiệm vụ quan trọng của lĩnh vực sinh học, nhưng sinh học còn phải góp phần phát triển sinh kế, nâng cao năng suất cây trồng, cải tiến sản xuất, bảo vệ môi trường. Đó mới là giá trị thiết thực mà khoa học, công nghệ cần hướng tới.

Ngày nay, một nhà khoa học Việt Nam có nhất thiết phải trở về làm việc toàn thời gian trong nước mới có thể đóng góp cho đất nước không? Chúng ta cần xây dựng cơ chế kết nối trí thức toàn cầu ra sao?

Ngày nay, một nhà khoa học Việt Nam có nhất thiết phải trở về làm việc toàn thời gian trong nước mới có thể đóng góp cho đất nước không? Chúng ta cần xây dựng cơ chế kết nối trí thức toàn cầu ra sao?

Chúng ta đang có những chủ trương, định hướng rất phù hợp trong việc thu hút và sử dụng nhân tài.

Nhân tài có thể là những người đang được đào tạo, làm việc tại Việt Nam, cũng có thể là người Việt Nam đang làm việc trong môi trường quốc tế. 

Không nhất thiết tất cả các nhà khoa học phải trực tiếp trở về làm việc toàn thời gian mới có thể đóng góp cho đất nước.

Có những nhiệm vụ cần sự tham gia trực tiếp, sử dụng hệ thống nghiên cứu và cơ sở vật chất tại chỗ. Nhưng cũng có nhiều công việc có thể thực hiện thông qua tư vấn từ xa, hợp tác nghiên cứu, chia sẻ tri thức hoặc kết nối các nhóm nghiên cứu.

Đặc biệt, trí thức Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò cầu nối, đưa những tri thức mới, công nghệ mới và các vấn đề khoa học đang nổi lên trên thế giới về phục vụ Việt Nam.

Một định hướng quan trọng là phải tạo sự liên thông giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, giữa đội ngũ trí thức trong nước với trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Không chỉ người Việt Nam mới có thể đóng góp cho Việt Nam. Chúng ta cũng cần kết nối những chuyên gia, nhà khoa học quốc tế có năng lực và mong muốn tham gia vào sự phát triển của đất nước.

Khi có cơ chế hợp tác phù hợp, chúng ta sẽ huy động được nguồn lực trí tuệ rộng lớn hơn rất nhiều, không bị giới hạn trong phạm vi một cơ quan, tổ chức hay quốc gia.

Nếu nhìn về tương lai, khoảng 20 năm nữa, theo Giáo sư, Việt Nam cần làm gì để tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học tham gia giải quyết các bài toán mới của đất nước?

Tôi cho rằng 20 năm là khoảng thời gian đủ để chúng ta thực hiện những chu trình nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển công nghệ và đưa kết quả vào cuộc sống.

Điều đầu tiên là phải tiếp tục phát triển nghiên cứu cơ bản. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, ai làm chủ được nghiên cứu cơ bản thì có điều kiện làm chủ tương lai của đất nước và thế giới.

Bên cạnh đó, phải có định hướng đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn, nhận diện được những vấn đề mới nổi, những công nghệ cốt lõi của thế giới trong tương lai, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp.

Chúng ta có rất nhiều người Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài, nắm giữ tri thức tiên tiến, thậm chí giữ vị trí hàng đầu trong một số lĩnh vực khoa học. Đây là nguồn lực rất quan trọng.

Vấn đề là phải có sự điều phối tổng thể, kết nối nguồn lực ấy thành một chuỗi giá trị xuyên suốt, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến sản xuất thử nghiệm và đưa sản phẩm vào cuộc sống.

Chúng ta không chỉ dừng lại ở những công trình nghiên cứu, mà phải hướng tới tạo ra những sản phẩm khoa học, công nghệ thực sự của Việt Nam, phục vụ sự phát triển đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Thiết kế: Phạm Luyện

Thái An

Vân Nga

Nguyễn Đức

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/gs-tran-hong-thai-khoa-hoc-khong-co-bien-gioi-nhung-nha-khoa-hoc-co-que-huong-2569735.html