Gieo con chữ bên mốc 238
Giữa núi rừng biên giới Lao Chải, nơi những con đường quanh co thường xuyên bị chia cắt bởi mưa lũ, hai cô giáo mầm non vẫn ngày ngày bám bản, chăm sóc và dạy dỗ những đứa trẻ người Mông. Ở điểm trường Mốc 238, thuộc thôn Lùng Chư Phùng, xã Lao Chải, mỗi con chữ được gieo xuống là một hành trình vượt khó, mỗi nụ cười trẻ thơ là động lực để những người gieo chữ thêm vững lòng nơi biên cương.

Cô giáo hướng dẫn trẻ thực hành các hoạt động học tập, vui chơi tại điểm trường Mốc 238, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Bám bản nơi biên cương
Những ngày cuối thu, gió lạnh bắt đầu tràn về miền biên viễn. Con đường dẫn vào điểm trường mốc 238 quanh co men theo sườn núi. Một bên là vực sâu nhìn xuống những nếp nhà thưa thớt, một bên là núi cao với những hàng sa mộc vươn mình trong sương sớm. Càng đi sâu vào bản, tiếng xe càng thưa dần, nhường chỗ cho tiếng gió rít qua những tán cây và âm thanh núi rừng tĩnh lặng. Từ điểm trường, chỉ khoảng 700 m nữa là đến cột mốc biên giới 238. Nằm gần như tách biệt với khu dân cư, xung quanh điểm trường chỉ có vài mái nhà trình tường lợp tấm phiprô xi măng mới được dựng lên. Giữa không gian núi rừng mênh mông ấy, ngôi trường nhỏ trở thành nơi gặp gỡ thân thuộc của những đứa trẻ người Mông trong bản.
Khi chúng tôi đến, tiếng trẻ thơ ê a đánh vần vọng ra sau cánh cổng trường được khóa cẩn thận. Bên trong, 19 học sinh đang học tập, vui chơi dưới sự chăm sóc của hai cô giáo Phan Thị Tầm, sinh năm 1992, dân tộc Tày và Lý Thị Duyên, sinh năm 1977, dân tộc Nùng. Cả hai đã có ba năm gắn bó với điểm trường, cùng nhau vượt qua những thiếu thốn để duy trì nền nếp dạy và học nơi vùng cao biên giới.
Điểm trường hiện có hai phòng học, nhà bếp, nhà vệ sinh và phòng nghỉ dành cho giáo viên. So với những năm tháng trước đây, đó đã là một sự đổi thay đáng kể. Cô Tầm kể: “Trước năm 2015, khi điểm trường chưa được xây dựng kiên cố, nhà trường phải mượn nhà đất của người dân trong bản để tổ chức lớp học. Những căn phòng đơn sơ, thiếu thốn đủ bề nhưng vẫn là nơi đón những đứa trẻ đến làm quen với trường lớp, tiếng Việt và những bài học đầu đời. Ngày ấy, thôn chưa có điện lưới, xã Lao Chải chưa có chợ phiên. Cuối mỗi tuần, giáo viên tranh thủ hai ngày nghỉ để trở về nhà, mua sắm tư trang, thực phẩm rồi mang lên điểm trường sử dụng cho cả tuần. Cuộc sống nơi bản xa cứ thế nối tiếp bằng những chuyến đi - về vất vả, những giờ lên lớp và công việc chăm sóc trẻ nhỏ”.
Đến nay, điện lưới đã về, trường lớp được xây dựng, điều kiện dạy học từng bước cải thiện. Thế nhưng, con đường vào điểm trường vẫn là nỗi lo thường trực. Mỗi mùa mưa, đất đá từ sườn núi có thể sạt xuống bất cứ lúc nào, khiến giao thông bị chia cắt. Có những đợt mưa lớn, cô trò gần như bị cô lập suốt cả tuần. Đường đi khó khăn không chỉ ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho giáo viên và học sinh.
Không chỉ cách trở về địa lý, việc dạy học tại mốc 238 còn có những khó khăn riêng. Cả bốn thôn của xã Lao Chải đều là nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó nhiều người chưa thành thạo tiếng phổ thông. Với trẻ mầm non người Mông, khi mới đến lớp, tiếng Việt gần như là một ngôn ngữ xa lạ. Để trẻ hiểu lời cô, làm quen với các hoạt động học tập, giáo viên phải kiên trì sử dụng cử chỉ, hình ảnh và những câu nói ngắn gọn, gần gũi. Các cô cũng chủ động học tiếng Mông từ chính học sinh và phụ huynh. Cô dạy trẻ tiếng phổ thông, còn trẻ và cha mẹ lại giúp cô làm quen với tiếng nói của bản làng. Cứ thế, từng chút một, khoảng cách ngôn ngữ dần được thu hẹp bằng sự kiên nhẫn và tình yêu thương.
Ươm mầm xanh giữa gian khó
Ở điểm trường mốc 238, công việc của giáo viên không dừng lại sau mỗi giờ lên lớp. Do số lượng học sinh ít, các cô phải tổ chức hoạt động học tập cho trẻ ở nhiều độ tuổi trong cùng một không gian. Sự khác biệt về độ tuổi, khả năng tiếp nhận và nhu cầu chăm sóc đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong từng hoạt động, vừa bảo đảm trẻ được học tập phù hợp, vừa duy trì sự an toàn và nền nếp của lớp. Với trẻ mầm non, mỗi ngày đến trường còn là hành trình làm quen với những thói quen sinh hoạt, từ rửa tay, giữ vệ sinh đến ăn uống, vui chơi cùng bạn bè. Bởi vậy, hai cô giáo vừa là người dạy chữ, dạy kỹ năng, vừa chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, theo dõi sức khỏe và hỗ trợ các em trong những việc nhỏ nhất. Khó khăn càng chồng chất khi cơ sở vật chất của điểm trường đã xuống cấp. Trong khi đó, đời sống của nhiều hộ dân trong bản còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, khả năng hỗ trợ nhà trường và chăm lo việc học của con em còn hạn chế. Một trở ngại khác là hạ tầng viễn thông chưa ổn định. Sóng điện thoại chập chờn khiến việc trao đổi thông tin, cập nhật tài liệu chuyên môn và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy gặp nhiều gián đoạn. Có lúc, giáo viên phải đi quanh sân trường để tìm vị trí có sóng, tranh thủ kết nối với đồng nghiệp, cập nhật thông tin phục vụ công tác chuyên môn. Những phương tiện vốn quen thuộc ở các trường học vùng thuận lợi lại trở thành điều không dễ thực hiện tại điểm trường xa xôi này.
Dẫu vậy, giữa muôn vàn thiếu thốn, điều khiến các cô thêm vững lòng chính là sự quan tâm của chính quyền địa phương và tình cảm của người dân trong bản. Sự sẻ chia, giúp đỡ của phụ huynh và cộng đồng đã tiếp thêm động lực để giáo viên yên tâm bám trường, bám lớp. Những đứa trẻ ngày càng mạnh dạn, biết chào hỏi, biết chơi cùng bạn, làm quen với tiếng phổ thông và những nề nếp đầu tiên của cuộc sống tập thể cũng là phần thưởng quý giá dành cho người gieo chữ.
Rời điểm trường mốc 238, chúng tôi đi qua thôn Ngài Là Thầu ở độ cao khoảng 1.100 m so với mực nước biển. Gió lạnh vẫn len qua những triền núi, những hàng sa mộc đứng thẳng giữa trời cao. Phía sau chúng tôi, ngôi trường nhỏ nơi sát cột mốc biên giới vẫn lặng lẽ đón những ngày mới. Ở đó, cô Tầm, cô Duyên cùng những giáo viên cắm bản vẫn miệt mài với công việc của mình. Không có những điều kiện thuận lợi, cũng chẳng có đủ đầy tiện nghi, nhưng các cô vẫn kiên trì vun đắp những bài học đầu đời cho trẻ thơ như những cây thông, cây sa mộc bám rễ sâu vào đất đá, những người giáo viên ấy chọn gắn bó với mảnh đất biên cương bằng trách nhiệm và tình yêu nghề.
