Giữ hồn làng trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố
Sắp xếp thôn, làng, tổ dân phố là yêu cầu tất yếu nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở. Tuy nhiên, tinh gọn không đồng nghĩa với xóa nhòa những giá trị văn hóa đã kết tinh qua nhiều thế hệ.

Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Bùi Hoài Sơn. Ảnh: quochoi.vn
Trao đổi với phóng viên TTXVN, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng nếu chỉ nhìn thôn, làng như một đơn vị hành chính để sáp nhập cơ học, chúng ta có thể làm mất những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Mất tên làng có thể mất một phần “căn cước văn hóa”
Trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố, chúng ta cần lưu ý điều gì để không đánh mất những giá trị văn hóa, xã hội đã được tích lũy qua nhiều thế hệ, thưa ông?
Theo tôi, đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ. Thôn, làng, tổ dân phố trước hết có thể là một đơn vị quản lý ở cơ sở, nhưng sâu xa hơn, đó là một không gian văn hóa, một thiết chế xã hội, một môi trường hình thành nhân cách và lưu giữ ký ức cộng đồng. Nếu chỉ nhìn thôn, làng bằng con số dân cư, diện tích, đầu mối quản lý hay quy mô tổ chức, chúng ta rất dễ bỏ qua phần chìm quan trọng nhất: những giá trị đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Một ngôi làng không chỉ có đường làng, cổng làng, đình, chùa, cây đa, bến nước. Làng còn có gia phả, hương ước, lễ hội, tiếng nói, phong tục, cách ứng xử, quan hệ họ hàng, tình làng nghĩa xóm, ký ức về những người đã khuất, những người có công, những câu chuyện được kể lại trong mỗi gia đình. Đó là “vốn xã hội” rất quý, tạo nên sự gắn kết, niềm tin, trách nhiệm và khả năng tự quản của cộng đồng.
Trong văn hóa Việt Nam, làng không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi con người thuộc về. Con người có thể đi xa, nhưng khi nhắc đến quê, họ thường nhắc đến làng, đến xóm, đến tên gọi thân thuộc đã ăn sâu vào ký ức. Nếu quá trình sắp xếp chỉ thuần túy hành chính, chúng ta có thể làm mất đi những lớp nghĩa ấy. Mất tên làng không đơn giản là mất một danh xưng; sâu xa hơn, có thể là mất một phần “căn cước văn hóa”, làm suy giảm sự gắn bó của người dân với nơi chốn, với cộng đồng và với lịch sử của chính mình.
Vì vậy, tinh gọn bộ máy là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chồng chéo, bảo đảm nguồn lực cho cơ sở. Nhìn chung việc tinh gọn trên cả nước đã đạt các mục tiêu trên. Nhưng cũng cần lưu ý tinh gọn không có nghĩa là làm phẳng mọi khác biệt văn hóa. Quản trị hiện đại phải biết tôn trọng chiều sâu truyền thống. Một bộ máy gọn hơn chỉ thực sự mạnh hơn khi nó không làm nghèo đi đời sống tinh thần của nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, mỗi địa phương cần nhận thức rõ "giữ được văn hóa là giữ được gốc rễ phát triển"; giữ gìn văn hóa không chỉ là bảo tồn di sản mà còn là giữ nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững.
Một ngôi làng có thể mất tên trên bản đồ hành chính nhưng vẫn tồn tại trong ký ức và đời sống văn hóa của người dân. Theo ông làm thế nào để quá trình sắp xếp không trở thành việc gộp cơ học các cộng đồng dân cư, làm đứt gãy không gian văn hóa làng xã?
Tôi cho rằng quan trọng nhất là không được làm đứt gãy ký ức cộng đồng và không được phủ nhận “căn cước văn hóa” của người dân. Có những tên gọi không còn là một đơn vị hành chính độc lập, nhưng vẫn cần được tôn trọng như một địa danh văn hóa, một ký hiệu ký ức, một phần của đời sống tinh thần cộng đồng.
Sáp nhập thôn, làng, tổ dân phố là yêu cầu của quản trị, nhưng không nên biến quá trình ấy thành sự xóa nhòa lịch sử. Tên làng, tên xóm, tên dòng họ, tên lễ hội, tên di tích, tên không gian sinh hoạt cộng đồng… đều là những dấu mốc văn hóa cần được lưu giữ. Có thể thay đổi cách tổ chức quản lý, nhưng không nên tùy tiện xóa bỏ những gì đã trở thành máu thịt trong tâm thức người dân.
Tiếp nữa là không được phá vỡ các thiết chế văn hóa truyền thống đang vận hành tốt. Ở nhiều nơi, đình làng, nhà văn hóa, nghĩa trang, lễ hội, hương ước, ban khánh tiết, dòng họ, các nhóm tự quản vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự, đạo lý và sự gắn kết cộng đồng. Nếu sáp nhập mà không tính đến các thiết chế ấy, rất dễ dẫn tới tình trạng cộng đồng mới có tên gọi chung nhưng thiếu sự đồng thuận, thiếu bản sắc chung và thiếu cơ chế dung hòa các khác biệt.
Cũng không được xem người dân chỉ là đối tượng chịu tác động của quyết định hành chính. Người dân phải là chủ thể của quá trình này. Làng xã Việt Nam tồn tại bền vững không chỉ nhờ cơ chế quản lý từ trên xuống, mà còn nhờ sự đồng thuận, tự quản và niềm tin từ bên trong cộng đồng. Một quyết định đúng về kỹ thuật nhưng không được cộng đồng chấp nhận thì vẫn có thể tạo ra tổn thương văn hóa lâu dài.
Làng xã - “thực thể văn hóa sống”
Khi hai hoặc nhiều thôn được sáp nhập, những yếu tố văn hóa nào cần được rà soát, đánh giá trước khi đưa ra quyết định hành chính?
Theo tôi, trước khi sáp nhập các thôn, làng, tổ dân phố, cần có một bước rà soát văn hóa nghiêm túc, không hình thức. Ít nhất có mấy nhóm yếu tố cần được xem xét.
Trước hết là lịch sử hình thành và tên gọi truyền thống của từng cộng đồng. Phải biết thôn ấy có từ bao giờ, tên gọi gắn với sự kiện gì, nhân vật nào, nghề nghiệp nào, đặc điểm văn hóa nào. Có những tên làng là kết tinh của lịch sử hàng trăm năm, không thể chỉ vì thuận tiện quản lý mà thay thế một cách đơn giản.
Thứ hai là hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Cần rà soát đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, nghĩa trang, giếng làng, cây cổ thụ, lễ hội, nghề truyền thống, tri thức dân gian, phong tục cưới hỏi, tang ma, các hình thức diễn xướng, sinh hoạt văn nghệ dân gian. Những yếu tố này không chỉ có giá trị văn hóa mà còn là nền tảng của du lịch cộng đồng, công nghiệp văn hóa và phát triển bền vững ở cơ sở.
Thứ ba là cấu trúc xã hội và quan hệ cộng đồng. Mỗi làng có những dòng họ, nhóm cư dân, quan hệ láng giềng, tập quán tương trợ, cơ chế hòa giải, tự quản khác nhau. Nếu không hiểu cấu trúc này, việc sáp nhập có thể vô tình tạo ra va chạm, so bì, tâm lý “làng cũ – làng mới”, “bên này – bên kia”.
Thứ tư là thiết chế văn hóa hiện có và khả năng sử dụng sau sáp nhập. Nhà văn hóa, sân thể thao, không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức lễ hội, nơi sinh hoạt người cao tuổi, phụ nữ, thanh niên… cần được đánh giá để bảo đảm sau sáp nhập, người dân không bị xa hơn, khó tiếp cận hơn với các thiết chế phục vụ đời sống tinh thần.
Cuối cùng là tâm tư, nguyện vọng và mức độ đồng thuận của người dân. Đây không phải yếu tố phụ, mà là yếu tố quyết định. Văn hóa làng xã không thể đo bằng mệnh lệnh hành chính. Nó tồn tại trong tình cảm, ký ức, thói quen, niềm tự hào và sự chấp nhận của cộng đồng.
Nếu coi làng xã là một “thực thể văn hóa sống”, theo ông, có nên quy định các tiêu chí văn hóa như một điều kiện bắt buộc bên cạnh các tiêu chí hành chính khi xem xét sắp xếp thôn, tổ dân phố?
Tôi cho rằng rất nên. Khi chúng ta đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của phát triển, thì mọi quyết định liên quan đến cộng đồng dân cư, nhất là làng xã, không thể chỉ dựa trên tiêu chí hành chính. Làng xã là một “thực thể văn hóa sống”, nghĩa là ở đó có con người, ký ức, quan hệ xã hội, phong tục, tín ngưỡng, di sản và cả những mạch ngầm đạo lý được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vì vậy, bên cạnh tiêu chí dân số, diện tích, vị trí địa lý, thuận lợi quản lý, cần có tiêu chí văn hóa trong quá trình sắp xếp. Tiêu chí ấy không nhất thiết làm phức tạp thêm thủ tục, mà giúp cho quyết định hành chính nhân văn hơn, bền vững hơn và phù hợp với thực tiễn hơn.
Chẳng hạn, cần đánh giá mức độ tương đồng hoặc khác biệt về lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, nghề truyền thống, quan hệ cộng đồng, thiết chế văn hóa, khả năng duy trì tên gọi truyền thống. Những nơi có di sản đặc biệt, có lễ hội riêng, có không gian văn hóa riêng, có cộng đồng dân cư mang bản sắc riêng thì cần được cân nhắc rất kỹ trước khi sáp nhập hoặc đổi tên.
Tôi nghĩ, trong kỷ nguyên mới, quản trị quốc gia hiệu quả hơn khi tinh tế hơn. Tinh tế ở đây là biết nhìn thấy những điều không hiện lên trong bảng biểu thống kê; biết tôn trọng những giá trị không dễ định lượng nhưng lại quyết định sức sống của cộng đồng. Một quyết định hành chính đúng phải vừa hợp lý về quản lý, vừa hợp lòng dân, vừa bảo vệ được chiều sâu văn hóa.
Một dân tộc muốn đi xa phải biết giữ ký ức, bản sắc

Làng cổ Đường Lâm. Ảnh: Lê Phú/Báo Tin tức và Dân tộc
Theo Ông, tiếng nói và sự đồng thuận của người dân cần được đặt ở vị trí nào trong quá trình sắp xếp thôn, làng, tổ dân phố để bảo đảm các quyết định hành chính không tách rời đời sống văn hóa cộng đồng?
Theo tôi, tiếng nói của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm. Không phải ở cuối quy trình để “lấy ý kiến cho đủ thủ tục”, mà phải được lắng nghe ngay từ khi xây dựng phương án. Bởi không ai hiểu làng bằng chính người làng ấy. Không ai cảm nhận sâu sắc giá trị của một tên gọi, một con đường, một ngôi đình, một lễ hội, một nghĩa trang, một không gian sinh hoạt cộng đồng bằng những người đã sống ở đó, lớn lên ở đó, gửi gắm ký ức gia đình và dòng họ ở đó.
Sự đồng thuận của người dân không chỉ là điều kiện chính trị - xã hội để thực hiện chủ trương thuận lợi hơn, mà còn là thước đo văn hóa của quá trình sắp xếp. Nếu người dân thấy mình được tôn trọng, được giải thích, được tham gia, được góp ý và được bảo vệ những giá trị chính đáng, họ sẽ đồng hành với chính quyền. Ngược lại, nếu người dân cảm thấy một quyết định áp đặt, thiếu lắng nghe, thiếu thấu hiểu, thì dù việc sắp xếp có hoàn thành về mặt hồ sơ, trong lòng cộng đồng vẫn có thể để lại khoảng cách.
Tôi cho rằng cần có cơ chế đối thoại thực chất ở cơ sở. Không chỉ họp lấy ý kiến theo hình thức, mà phải giải thích rõ vì sao sắp xếp, sắp xếp để làm gì, tên gọi mới như thế nào, các tên gọi cũ được lưu giữ ra sao, các thiết chế văn hóa được sử dụng thế nào, quyền lợi của người dân có bị ảnh hưởng không. Đặc biệt, cần lắng nghe người cao tuổi, người có uy tín, trưởng dòng họ, nghệ nhân, cán bộ văn hóa cơ sở, những người nắm giữ ký ức và phong tục của cộng đồng.
Dân chủ ở cơ sở không chỉ là một yêu cầu quản lý. Đó còn là phương thức bảo vệ văn hóa. Khi người dân được tham gia vào quyết định liên quan đến nơi mình sống, họ không chỉ chấp hành một chủ trương, mà còn góp phần làm cho chủ trương ấy thấm vào đời sống.
Theo ông, cần những giải pháp căn cơ gì để việc sắp xếp thôn, làng, tổ dân phố vừa đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy, vừa bảo tồn được hồn cốt văn hóa làng Việt trong dài hạn?
Trước hết phải thống nhất nhận thức rằng sắp xếp thôn, làng, tổ dân phố không chỉ là công việc hành chính, mà là một quá trình tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa ở cơ sở. Từ nhận thức ấy mới có cách làm thận trọng, nhân văn và bền vững.
Giải pháp đầu tiên là bổ sung yêu cầu đánh giá tác động văn hóa trong quá trình xây dựng phương án sắp xếp. Ở những nơi có lịch sử lâu đời, có di sản, có lễ hội, có nghề truyền thống, có cộng đồng dân cư mang bản sắc riêng, cần có hồ sơ văn hóa đi kèm hồ sơ hành chính. Hồ sơ ấy không phải để gây khó cho quá trình tinh gọn, mà để bảo đảm tinh gọn nhưng không làm mất gốc.
Giải pháp thứ hai là bảo tồn tên gọi truyền thống bằng nhiều hình thức linh hoạt. Một tên làng có thể không còn là tên đơn vị hành chính độc lập, nhưng vẫn có thể được lưu giữ trong biển chỉ dẫn, không gian văn hóa, nhà văn hóa, hồ sơ địa chí, bản đồ số, lễ hội, tuyến du lịch, sản phẩm văn hóa địa phương. Điều quan trọng là để người dân không có cảm giác quê hương mình bị xóa khỏi ký ức chung.
Giải pháp thứ ba là xây dựng cơ chế tham vấn cộng đồng thực chất. Mọi phương án sắp xếp cần được công khai, giải thích rõ ràng, lấy ý kiến rộng rãi, đặc biệt từ những nhóm có vai trò gìn giữ văn hóa cộng đồng. Không nên coi sự đồng thuận là thủ tục, mà phải coi đó là điều kiện bảo đảm sự ổn định và phát triển lâu dài.
Giải pháp thứ tư là gắn sắp xếp thôn, làng, tổ dân phố với đổi mới thiết chế văn hóa cơ sở. Sau sáp nhập, không gian sinh hoạt cộng đồng phải thuận tiện hơn, chất lượng hơn, có khả năng phục vụ người dân tốt hơn. Nếu sáp nhập mà người dân đi xa hơn để sinh hoạt, khó hơn để tiếp cận dịch vụ văn hóa, ít hơn cơ hội tham gia đời sống cộng đồng thì mục tiêu tinh gọn chưa đạt đến chiều sâu.
Giải pháp thứ năm là số hóa di sản làng xã. Mỗi địa phương có thể xây dựng cơ sở dữ liệu về tên làng, lịch sử làng, di tích, lễ hội, nghệ nhân, hương ước, nghề truyền thống, câu chuyện cộng đồng. Khi dữ liệu được lưu giữ, kết nối và khai thác, việc sắp xếp hành chính sẽ không đồng nghĩa với mất mát văn hóa. Ngược lại, đó còn là cơ hội để nhận diện lại, kể lại và phát huy giá trị làng Việt trong bối cảnh mới.
Sau cùng, tinh gọn bộ máy là để phục vụ nhân dân tốt hơn, chứ không phải để đời sống văn hóa cộng đồng nghèo đi. Làng Việt là nơi kết tinh hồn cốt dân tộc, nơi văn hóa đi vào đời sống bằng những điều bình dị nhất. Giữ được hồn làng trong quá trình đổi mới quản trị cơ sở chính là giữ được mạch sâu của văn hóa Việt Nam. Một đất nước muốn đi nhanh cần bộ máy hiệu quả; nhưng một dân tộc muốn đi xa phải biết giữ ký ức, bản sắc và những giá trị làm nên sức bền của mình.
Trân trọng cảm ơn ông!











