Giữ nguyên lãi suất, Fed đang mạo hiểm với nền kinh tế Mỹ?
Chi phí sinh hoạt là vấn đề được cử tri quan tâm hàng đầu khi chuẩn bị đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ, nhưng ngày 28/10, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không có động thái ứng phó nào trước mắt dù Mỹ đang trải qua tình trạng lạm phát dai dẳng.

Chủ tịch Fed Kevin Warsh trong cuộc họp báo công bố quyết định về lãi suất tại Washington DC., ngày 28/10/2026. Ảnh: THX/TTXVN phát
Theo truyền thông Mỹ, mặc dù giá tiêu dùng tăng 3,7% trong 12 tháng qua và thước đo lạm phát vẫn cao hơn 50% so với mục tiêu, nhưng quyết định giữ nguyên lãi suất vẫn nằm trong dự đoán của giới quan sát.
Nguyên nhân là thay đổi lãi suất chỉ là một công cụ tương đối thô sơ, có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế nếu được sử dụng không đúng thời điểm hoặc không đúng cách.
Chủ tịch Fed Kevin Warsh phát biểu tại cuộc họp báo ngày 28/10: “Lãi suất tác động đến mọi ngóc ngách. Lãi suất ảnh hưởng đến mọi thứ”.
Mới tháng trước, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ đã tăng lãi suất lần đầu tiên trong hơn 3 năm. Họ muốn chờ thêm một thời gian để xem nền kinh tế phản ứng ra sao trước khi tiếp tục tăng lãi suất. Ông Warsh nói: “Bảo đảm ổn định giá cả và theo dõi lạm phát không phụ thuộc vào một ngày cố định trên lịch hay một số liệu riêng lẻ nào đó. Điều quan trọng là phải bảo đảm chúng ta có những mục tiêu rõ ràng và chính sách tiền tệ phù hợp”.
Ông Warsh cho biết ông lạc quan trước việc kỳ vọng lạm phát giảm xuống sau khi Fed tăng lãi suất hồi tháng 9.
Tuy nhiên, bằng cách chờ đợi, Fed cũng đang chấp nhận canh bạc đầy rủi ro. Ngân hàng trung ương này có nguy cơ lặp lại sai lầm như năm 2021, khi cho rằng có thể đánh bại “con quái vật” lạm phát đang hiện hữu ngay trước mắt nền kinh tế chỉ bằng cách phớt lờ nó.
Lần này, tình hình có thể thực sự khác. Việc không vội vàng hành động có thể chứng tỏ là một quyết định sáng suốt. Ngược lại, điều đó cũng có thể buộc Fed phải áp dụng biện pháp điều chỉnh mạnh tay vào tháng 12, gây chấn động nền kinh tế, trong khi Fed hoàn toàn có thể tránh được tình thế này nếu tăng lãi suất ngay trong tháng 10.
Vì sao Fed không tăng lãi suất?
Nguyên nhân thứ nhất là việc làm. Tăng lãi suất khiến chi phí vay vốn của doanh nghiệp tăng lên, qua đó làm giảm nguồn lực dành cho tuyển dụng.
Đây có thể là thời điểm nguy hiểm để gây xáo trộn thị trường lao động. Nền kinh tế Mỹ chỉ tạo thêm 29.000 việc làm trong tháng 9, thấp hơn nhiều so với dự báo. Báo cáo việc làm tháng 9 cũng cho thấy số việc làm được tạo ra trong 2 tháng trước đó thấp hơn 60.000 so với số liệu đã công bố trước đây.
Thị trường lao động chưa rơi vào tình trạng xấu, nhưng nền tảng đang khá mong manh. Nền kinh tế Mỹ mất 10.000 việc làm trong tháng 7 và ghi nhận số việc làm giảm trong 7/16 tháng vừa qua. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức tương đối thấp, 4,2%, nhưng các nhà kinh tế mô tả nền kinh tế hiện nay là trạng thái “ít tuyển dụng, ít sa thải”.
Nguyên nhân thứ hai là thị trường. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ đã tăng kể từ lần Fed nâng lãi suất gần nhất, có thời điểm chạm mức cao nhất trong nhiều thập kỷ. Lợi suất sau đó giảm nhẹ, trở về mức ghi nhận hồi giữa tháng 9. Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu vẫn tương đối cao, qua đó tạo thêm cơ sở để Fed giữ nguyên lãi suất, bởi lợi suất cao có tác động tương tự lãi suất quỹ liên bang, làm chậm nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Fed cũng không muốn gây bất ngờ cho giới đầu tư, ngay cả trong giai đoạn ông Warsh theo đuổi cách tiếp cận mới, khiến thị trường khó đoán định động thái tiếp theo. Theo công cụ FedWatch, thị trường đã tính đến khả năng 91% Fed giữ nguyên lãi suất. Nếu tăng lãi suất, Fed có thể khiến thị trường chao đảo và buộc các nhà đầu tư phải điều chỉnh lại danh mục với những tổn thất đáng kể.
Nguyên nhân thứ ba là thời điểm. Quyết định của Fed cũng có thể chịu ảnh hưởng, ít nhất ở một mức độ nhất định, từ cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới. Ông Narayana Kocherlakota, cựu Chủ tịch Fed chi nhánh Minneapolis, bình luận rằng Fed đã không tăng lãi suất ngày 28/10 vì muốn tránh trở thành mục tiêu chỉ trích của Tổng thống Donald Trump. Tuy nhiên, trong suốt lịch sử hoạt động, Fed nhiều lần điều chỉnh lãi suất đúng vào thời điểm cử tri chuẩn bị đi bỏ phiếu.
Vì sao giữ nguyên lãi suất có thể là sai lầm?

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở Washington, D.C. Ảnh: THX/TTXVN phát
Thứ nhất là vì Fed cho rằng mọi thứ chỉ là tạm thời. Fed thường không can thiệp khi những cú sốc nguồn cung đẩy lạm phát tăng cao, chẳng hạn khi xảy ra khủng hoảng năng lượng do chiến tranh Iran. Những cú sốc này thường chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, khó dự báo và ít chịu tác động từ việc điều chỉnh lãi suất.
Tuy nhiên, đôi khi các cú sốc nguồn cung lại dẫn đến những vấn đề lớn hơn mà Fed lẽ ra có thể góp phần giải quyết. Chính Fed hiểu rõ điều này hơn ai hết, bởi ngân hàng trung ương này vừa trải qua một tình huống tương tự.
Khi nền kinh tế phục hồi sau đại dịch COVID-19, Fed đã mắc sai lầm trong đánh giá lạm phát khi cho rằng đây chỉ là hệ quả tạm thời của cú sốc nguồn cung liên quan đến xung đột Nga - Ukraine và những đứt gãy nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng. Cuối cùng, lạm phát trở thành vấn đề nghiêm trọng nhất trong một thế hệ. Bị bất ngờ trước diễn biến này, Fed buộc phải tăng lãi suất với tốc độ chưa từng có tiền lệ, thực hiện 3 lần tăng liên tiếp, mỗi lần 0,75 điểm phần trăm.
Cuối cùng, Fed đã thành công trong việc đưa lạm phát mất kiểm soát xuống mức dễ kiểm soát hơn. Tuy nhiên, trước đó, giá tiêu dùng đã tăng tới 9,1% trong vòng một năm, mức cao nhất trong 4 thập kỷ.
Lần này có thể cũng không khác. Lạm phát đã bắt đầu lan sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Điều đặc biệt đáng lo ngại trong báo cáo lạm phát tiêu dùng tháng 9 là chi phí nhà ở và tiền thuê nhà bất ngờ tăng trở lại. Đây vốn là những yếu tố đóng góp đáng kể vào lạm phát, sau khi đã hạ nhiệt trong mùa xuân và mùa hè. Giá các dịch vụ khác cũng tăng cao hơn dự kiến. Giá những dịch vụ này thường có xu hướng tăng và duy trì ở mức cao khi các cơ sở kinh doanh như phòng tập yoga hay dịch vụ chăm sóc sân vườn tăng giá để bù đắp chi phí ngày càng lớn.
Một yếu tố khác đẩy lạm phát lên là làn sóng đầu tư vào các trung tâm dữ liệu và công nghệ phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI), góp phần đẩy nền kinh tế tăng tốc quá mức và có thể khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng quá nóng. Giá điện, vật liệu xây dựng, nhân công và các thiết bị công nghệ cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính xách tay đều tăng do xu hướng này.
Thứ hai là chiến tranh với Iran có thể leo thang. Đà tăng giá năng lượng có thể còn trầm trọng hơn rồi mới hạ nhiệt. Tổng thống Trump đã nhiều lần phát đi tín hiệu mạnh mẽ rằng Mỹ và Israel có thể leo thang chiến tranh với Iran sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Điều này có thể đẩy giá dầu lên cao hơn nữa.
Fed sẽ hành động thiếu khôn ngoan nếu đưa ra quyết định chỉ dựa trên tin đồn. Hơn nữa, giá năng lượng có thể nhanh chóng giảm xuống. Chẳng hạn, thông báo của chính quyền Tổng thống Trump về thỏa thuận ngừng bắn trong lĩnh vực năng lượng với Nga đến nay vẫn được duy trì tốt hơn dự kiến, giúp sản lượng dầu diesel của Nga tăng mạnh trong vài tuần qua. Điều này có thể khiến giá dầu diesel toàn cầu giảm đáng kể, nếu Ukraine tiếp tục ngừng các cuộc tấn công bằng thiết bị bay không người lái nhằm vào các nhà máy lọc dầu của Nga.
Tuy nhiên, đà tăng giá năng lượng kéo dài đã khiến giá cả trên toàn nền kinh tế tăng lên. Việc chờ đợi rồi mới tiếp tục nâng lãi suất có thể khiến Fed chậm chân trong cuộc chiến chống lạm phát.
Thứ ba là thời gian phát huy tác dụng. Phải một khoảng thời gian sau thì tăng lãi suất mới phát huy tác dụng. Trong khi đó, những đợt điều chỉnh lãi suất mạnh tay có thể gây ra tác động tiêu cực đối với hệ thống tài chính, thị trường và nền kinh tế. Nền kinh tế có xu hướng không phản ứng kịp khi nhiệt độ tăng dần từng chút một.
Nếu chiến tranh Iran và xung đột Nga - Ukraine tiếp tục leo thang, Fed có thể rơi vào tình thế khó khăn, buộc phải tăng lãi suất trong cuộc họp tiếp theo vào tháng 12 với mức cao hơn dự kiến, có thể lên tới 0,5 điểm phần trăm, bù đắp cho việc chậm hành động trước đó.
Những đợt tăng lãi suất liên tiếp với quy mô lớn trong năm 2022 đã khiến thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, đồng thời khiến thị trường nhà ở gần như đóng băng. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn tránh được suy thoái, một thành tích mà Fed hiếm khi đạt được khi tăng lãi suất.



